Dẫn nhập:

Văn học Phật giáo thời Lý Trần không chỉ mang một giá trị nghệ thuật cao về cách biểu đạt mà trên hơn cả đó là những giá trị về nội dung tư tưởng được gởi gắm trong từng tác phẩm; bởi lẽ mỗi ý tưởng của các tác giả đều mang đậm dấu ấn giác ngộ giải thoát và tấm lòng từ bi vô ngại của Phật giáo đối với quê hương đất nước và cuộc đời.

Điều đó đã được khắc họa rất rõ nét qua hình ảnh về con người Đại Việt qua ba tác phẩm văn học nổi tiếng của Phật giáo thời Lý Trần của ba vị thiền sư chứng đạo là: Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục, Trần Nhân Tông trong Cư Trần Lạc Đạo và Tuệ Trung Thượng Sĩ  trong Phật Tâm Ca.

B. Nội Dung:

1. Hình Ảnh Con Người Trong Tác Phẩm Khóa Hư Lục Của Trần Thái Tông.

1.1. Con Người Nhân Ái Vị Tha Rộng Mở:

Trần Thái Tông đã thể hiện tấm lòng nhân ái, vị tha, rộng mở qua Khóa Hư Lục kể từ khi tiếp nhận lời khuyên của thiền sư Viên Chứng

” Phàm làm bậc nhân quân thì lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình”(thiền tông chỉ nam tự). Để được như vậy, con người phải biết sống hòa hợp, thuận theo đạo lý, chung sống trong một cộng đồng. Mọi người tự ý thức thủ tiêu những ham muốn cá nhân, thay vào đó là tấm lòng cần phải trang trãi. Như vậy từ con người cá nhân vị kỷ, chứa chất bản ngã đã trở thành con người sống theo tinh thần vô ngã, xa lìa các ham muốn của đời sống vật chất. Đó là con người có sự biến chuyển nội tâm đi từ những thái độ hành vi bất thiện đến sự thăng hoa.

Nếu văn học Phật Giáo đời lý, khi đề cập đến hình ảnh con người, dù là con người vô ngã, vô úy, vô ngôn … đi nữa, chỉ gợi chứ ít khi tả thì đến văn học Phật giáo đời Trần, nhất là Trần Thái Tông qua Khóa Hư Lục đã sử dụng bút pháp tả thực để mô tả con người từ hình thể bên ngoài đến nội tâm bên trong.

Đoạn văn sau đây trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân là một minh chứng:

” xưa kia má hồng sắc thắm, ngày nay xương trắng tro tàn. Mây mịt mùng khi giọt lệ chứa chan, trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động. Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chầy, ngựa xéo trâu quần. Lửa đóm lập lòe dưới đám cỏ xanh, tiếng trùng nỉ non trên hàng dương trắng. Bia mộ nữa chình, phủ đầy rêu biếc; chăn trâu hái củi, dẫm sạt lối mòn. Dẫu có văn chương nức tiếng; dù cho tài sắc nghiêng thành. Nào ai có khác chi ai; rốt cuộc đều về một mối. Mắt bị “sắc” lôi lên núi kiếm; tai theo “tiếng” gọi đến rừng dao. Đầu mũi ngửi khói tanh hôi; trong lưỡi ngậm hòn sắt nóng. Thân khiếp sợ đồng sôi tưới tắm; ý chua cay vạc lửa dầu nung. Trần gian dù trăm tuổi trăm năm; địa ngục một ngày một tối).Thân mạng con người được nằm trong thực tại của cõi “sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cái gì không ưa mà phải hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trược giả hợp là khổ ”, đúng như cái nhìn triết lý nhà Phật.

Thân tự cầm tù trong các dục vọng, thói quen đã tích lũy sai lạc từ bao nhiêu kiếp. Thói quen nguy hiểm nhất là thói quen trong suy nghĩ, nhận thức sai lạc về thân. Thân này phải biến chuyển, không thể thường tại, vĩnh hằng. Con người đang ở trọ trong cái thân giã huyễn mà cứ ngỡ tưởng chừng như thật có. Thân tự buộc mình vào cõi tương đối thịnh suy cuộc đời, con người tự bám víu vào cái tự ngã cạn cợt đầy tham vọng mà vẫy vùng trong khổ đau.

Chẳng phải ngạc nhiên khi Trần Thái Tông viết lên những dòng văn chương như thế về thân. Con người theo đó cảm nhận sự vận hành trong không gian ảm sầu, thời gian như ngắn lại theo dòng tâm lý ngập tràn lo âu “mây mịt mùng khi mưa lệ chứa chan; trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động. Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chầy, ngựa xéo trâu quần”. Ông khắc họa hình ảnh con người qua một thân mạng hải hùng thế kia. Mục đích là tự thân thoát ra sự vận hành của “cái thân” để đến một cõi lòng tỉnh lặng, cùng chia sẽ lòng mình với mọi người.

Con người trong Khóa Hư Lục là con người được hóa hiện từ cuộc sống trần trụi của nó. Từ tính cách tham ăn, khát uống, tranh quyền đoạt lợi, yêu ghét buồn vui, đắm chìm trong các dục, cho đến sự trãi nghiệm cả đời người. Tất cả được mô tả như là một hiện tượng thẩm mỹ, có sự vận động tâm linh đa chiều luôn diễn tiến không ngừng. L. tônxtôi thật có lý, khi ông phát biểu:

“… Con người như những dòng sông. Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu củng vậy cả. Nhưng mỗi con sông khi thì hẹp, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì ấm. Con người củng như vậy. Mỗi con người mang trong mình những mầm móng của mọi tính cách của con người và khi thì thể hiện những tính này, khi thì thể hiện những tính chất khác và thường không giống bản thân mình tuy vẫn cứ chính là mình”.

Hình ảnh con người được xác lập như là một chủ thể, một nhân vật trung tâm với xác thân bị giới hạn được đề cập và nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau ở trong tác phẩm. Trong ý nghĩa đó, con người thấy rõ những giới hạn, khuyết tật từ trong quan điểm sắc thân thông qua ngòi bút sắc sảo của bút pháp tả thực văn học Phật giáo ở thời Lý Trần. Nhờ vậy, con người sẽ vượt thoát, an trú trong đời sống hạnh phúc, cảm nhận những giá trị thẫm mỹ từ hiện thực.

1.2. Con người giác ngộ với những phẩm hạnh cao cả.

Con người giác ngộ trong Khóa Hư Lục được bắt nguồn từ khát vọng của Trần Thái Tông muốn lên núi Yên Tử tu hành để làm Phật, như trong Thiền Tông Chỉ Nam Tự có viết ” chỉ muốn làm Phật chứ không muốn làm gì khác”.

So với những khái niệm về con người giác ngộ truớc đó, chúng ta sẽ nhận ra những điểm tích cực, tiến bộ, cụ thể, thiết thực hiện tại của biện chứng giải thoát. Đến thời Trần Thái Tông, hình ảnh con người giác ngộ được minh họa qua hình ảnh ” lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật ” Đó là con người thấy rõ chân lý một cách trực tiếp, đồng nghĩa “kiến tánh” thấy Phật tính tại tâm và thường sống theo bản tính thường nhiên, trong sáng, liễu đạt các pháp.

Đọc Khóa Hư Lục, chúng ta thấy Trần Thái Tông xác lập con người giác ngộ là con nguời “kiến tánh”. khái niệm “tính” đuợc diễn tả bằng nhiều tên gọi như “giác tính”,” bản tính”,”pháp tính”,” Phật tính”,”chân như”, “chân tâm”, “chân nguyên”. Kiến tính là thấy được bản tính, thấy được con đường giác ngộ. Trong bài Tọa Thiền Luận, Trần Thái Tông nói “phàm người học đạo, chỉ cần thấy tính “. trong bài Phổ Khuyến Bồ Đề Tâm Văn, ông viết ” do thấy ánh sáng trí tuệ, phản chiếu lại mình thấy được tính mà thành Phật”.

Con người muốn thấy được tính thì phải tự thân hành trì, không thể trông cậy vào ai, kể cả đấng siêu hình, đó là con đường “cố thủ nội khán”

( quay đầu nhìn vào phía trong ). Tại đây sự trở về quê nhà chính là con đường giả từ “thả lòng buông bỏ”sự đắm chìm dục lạc của kẻ lang thang phong trần như bài khải bạch, của Lục Thời Sám Hối khắc họa:

”phượng hoàng đài bạn, hôn hôn thị tửu tham hoan;

Anh vũ lâu tiền, mộng mộng mê hoa thủ lạc “

( bên gác phượng hoàng say đắm cuộc vui chè rượu

Trước lầu anh vũ miệt mài cái thú mê hoa).

Đó là hình ảnh trở về quê nhà, chẳng phải tìm kiếm nơi xa xôi của ảo ảnh thiên đường hay niết bàn mà tác giả diễn đạt bằng hình ảnh “nhật viễn gia hương vạn lý trình” ( ngày hết xa quê, vạn dặm trường) trong bài phổ thuyết tứ sơn “đồ trình bất thiệp gia hương đáo”(quê hương đến được đâu cần lối ) trong niêm tụng kệ “bất lao tiến bộ đắc hoàng gia” (đường xa không bước củng về nhà) trong niêm tụng kệ.

Rõ ràng, con người giác ngộ là con người tự tìm lại chính mình. Phật và chúng sanh không khác. Trong bài Niệm Phật Luận, Trần Thái Tông khẳng định “thân ta tức thân Phật, không có hai tướng”. Ý tưởng đó sau này được Tuệ Trung Thượng Sĩ diễn dịch “khi mê không biết ta là phật ” trong Thượng Sĩ Ngữ Lục, còn Trần Nhân Tông thì “nhân khuây bản nên ta tìm Bụt; đến cốc hay chính Bụt là ta ” trong Cư Trần Lạc Đạo Phú.

Sinh mệnh con người rốt cuộc chỉ “mệnh tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước đầu ghềnh”. Cuộc đời thật mong manh, đầy mộng mị. Con người cần giáp mặt, vượt thoát. Ngay cả công danh phú quý, chỉ là một giấc mộng dài. Ai thấu hiểu nỗi lòng tác giả khi chính mình từng vượt thoát, bước ra khỏi sự mộng mị của cuộc đời. Chính lẽ đó, nhà vua không dưới 12 lần mô tả về giấc mộng “vô thường” trong tác phẩm Khóa Hư Lục, tiêu biểu như :”công danh cái thế vô phi đại mộng nhất trường; phú quý kinh nhân bất miễn vô thường nhị tự “(công danh lừng lẫy, chẳng qua một giấc mộng dài; phú quý hơn người, khó tránh hai chữ vô thường).

Nhờ nhận chân cuộc đời là mộng, tâm thức con người mở rộng không cùng, độ lượng hết thảy. Nhờ triết lý ấy mà Trần Thái Tông tỉnh thức, trở thành bậc vĩ nhân, thành vị minh quân của quấc gia, thành bó đuốc của thiền tông, hiếu nghĩa với anh em, chung tình với người yêu, sẵn sàng sung trận giữa làn thiên đạn, xem tính mạng như lông hồng, xem ngai vàng như chiếc giày rách, miễn sao ích nước lợi nhà. Phải chăng con người giác ngộ là con người luôn bước ra ngoài thế giới “đáo sứ mộng trung huyết mộng”? con người giác ngộ củng là con người tự do ra vào thế giới vô thường ảo ảnh. Với tinh thần vô trước, vô trú, con người bước ra khỏi thế giới tư duy hữu ngã, nhị nguyên phân biệt của sự giới hạn hai đầu giữa sinh và tử, đến và đi, có và không, một và khác của các cặp phạm trù đối đãi. Họ là con người ung dung tự tại, đi bất cứ nơi nào họ muốn. Hay khi miêu tả cảnh vật và con người lúc gần sáng:”giọt lậu điểm canh tàn, tiếng gà vừa gáy sáng. Bóng đuốc tiệc hoa vừa dứt, giải sao ngân hán lặn rồi. Giấc điệp lại quay về thế mộng; tiếng chuông khua vỡ chốn âm thầm. Ánh trăng nhạt ngậm nữa vành non biếc, vầng trời hồng chưa ló mặt duềnh xanh. Vách xưa tiếng dễ nỉ non; đường ngự vó câu rộn rã.

Đầu thành khói lạnh vấn vương; trời thắm sương mai mù mịt. Đúng là khi đạo sĩ chầu trời; vừa là lúc tăng sĩ hành đạo. Muôn hộ nghìn nhà chưa mở cửa, một đêm sáu khắc đã nên công. Tất cả đường đời; rối bời kiếp sống. Ôm gối nằm tuy sợ đương đêm; mở mắt ngủ chưa hay trọn kiếp. “Nhìn chung, con người trong Khóa Hư Lục được Trần Thái Tông diễn tả một cách sâu sắc đầy đủ cả hai mặt đạo và đời. Con người ấy luôn chan chứa và nặng lòng yêu thương quê hương đất nước, luôn lấy lợi ích của cộng đồng đặt trên lợi ích cá nhân, ở đó không có bóng dáng của sự ích kỷ, tranh chấp, mà làm sao chỉ ước mong mang lại bình an, hạnh phúc cho người khác. Con người ấy được ông nâng lên một tầm cao hơn đó là sự tu tập buôn bỏ, xem các pháp là vô thường huyễn hóa, danh lợi là bã phù du, tiền tài là sợi dây ràng buộc, từ đó buôn xã tất cả để chứng đắc quả vị giải thoát giác ngộ ngay giữa cuộc đời đầy nhiễm ô.

II. Hình Ảnh Con Người Đại Việt Trong Cư Trần Lạc Đạo Của Trần Nhân Tông:

1. Lấy chủ thuyết cư trần lạc đạo làm phương chăm sống:

Trước khi hình thành chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo thì Trần Thái Tông người đặt nền móng tư tưởng cho thiền phái Trúc Lâm, đã chọn bản Kinh Kim Cương và Kinh Kim Cương Tam Muội Chú Giải để làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử cả dân tộc ra sức chấn hưng đất nước. Theo nguyên lý duyên khởi của Kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Viên Giác thì bản thân từng cá thể không thể tự tồn tại độc lập mà không có sự liên hệ khác xung quanh con người, nhất là giai đoạn cả nước đang xây dựng và phát triển trên mọi lỉnh vực thì lại càng có nhiều mối liên hệ để làm cơ sở lý luận tạo tiền đề hình thành chủ thuyết Cư Trần Lạc Đạo phục vụ cho đường lối hoạt động thiền phái, góp phần xây dựng phát triển đất nước:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc san hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

( cư trần vui đạo hãy tùy duyên

Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền.

Báu sẵn trong nhà thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền).

Từ kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn khi nào tâm thức bước ra khỏi vòng luẩn quẩn phân biệt “nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân Tông tâm đắc trong thượng sĩ hành trạng “ta trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược ” trong hội thứ nhất ông khẳng định rõ:

“mình ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm

Muôn nghiệp an nhàn lặng an nhàn thể tính,

Nữa ngày rồi tự tại thân tâm”.

Thực tại ấy lừng lựng ra đấy, từ xưa đến nay, phô bày mọi nơi, mọi lúc mà Trần Nhân Tông cho là tùy duyên mà vui với đạo trong cư Trần Lạc Đạo Phú. Thể chứng thực tại là thể chứng Phật tâm, là tự tại giải thoát niết bàn ngay giữa dòng đời, đúng như tinh thần hòa quang đồng trần của Tuệ Trung:

“Cơ tắc xan hề hòa la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương

Hứng thời xuy hề vô khổng địch

Tình xứ phần hề giải thoát hương”.

( Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý,

Mệt thì ăn chừ, làng không làng

Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,

Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương).

Do đó, chúng ta chẳng có gì ngạc nhiên khi Trần Nhân Tông viết ” cư trần lạc đạo phú “và ” đắc thú lâm tuyền thành đạo ca ” và các tác phẩm khác nữa, trong đó giá trị lý luận ” cư trần lạc đạo ” trở thành hệ tư tưởng chính cho thiền phái Trúc Lâm hoạt động trong một bối cảnh lịch sử nước ta luôn phải đối diện các cuộc chiến tranh vệ quấc vừa xảy ra.

2. Tinh thần con người nhập thế trong cư trần lạc đạo:

Tinh thần nhập thế của Thiền Phái Trúc Lâm trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Thiền Tông Việt Nam khi nhìn nhận nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà. Trong bài viết “tìm hiểu về trần nhân tông, vị tổ sáng lập ra dòng thiền trúc lâm” mạn đà la phát biểu” tinh thần của thiền học Trúc Lâm là thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người:

Giác ngộ giải thoát hoàn toàn, mặt khác, không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước nhất phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình”.

Thiền phái Trúc Lâm đã nhập thế cùng dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nuớc. Thực ra, tinh thần nhập thế đã có từ thời Mâu Tử khi đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời trần với thiền phái Trúc Lâm thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ. Nó không chỉ tạo ra bản sắc Thiền Tông Đại Việt mà còn tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Việc định hướng bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở rộng biên cương, chấn hưng văn hóa Đại Việt của nhà Trần đều mang dấu ấn quan điểm Phật giáo, nhất là tư tưởng tùy duyên mà vui với đạo của thiền phái.

Sự thành công của nhà Trần là có các ông vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo để huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân. Tiềm lực dân tộc trước hết nằm ở lòng yêu nước của toàn dân để xây dựng Đại Việt thành một quấc gia hùng mạnh mà không có một thế lực nào ngăn cản được.

Với tinh thần ” tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên” của Kinh Hoa Nghiêm, nó đã quy định tính chất nhập thế của thiền phái. Và khái niệm nhập thế này đã được đức Phật dạy rất rỏ cho các hàng đệ tử của ngài “này các tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người”. Và các đệ tử của Phật từ xưa đến nay đã đi từ thành thị đến nông thôn để làm lợi cho đời.

Như vậy con người Đại Việt trong Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông đã nói lên một tinh thần cỡi mở trong nếp sống tự tại không phải lệ thuộc vào hoàn cảnh chi phối mà cứ sống đúng với những gì bình thường trong sự vận hành của con người mình đồng thời ông củng nêu cao tinh thần nhập thế đem đạo vào đời nhằm xây dựng cho con người và xã hội một nếp sống hiền lương, đạo đức trên cơ sở giáo lý của đức Phật.

III. Con Người Đại Việt Trong Phật Tâm Ca Của Tuệ Trung Thượng Sĩ

1. Tư Tưởng Hòa Quang Đồng Trần:

Thực tế, vào thời nhà Trần, yêu cầu của lịch sử đặt ra là cả nước tập trung nhân lực và trí tuệ để xây dựng đất nước. Mọi người dân, Phật tử đều phải tích cực vào đời làm rạng rỡ cho đời. Ngay trong bài Phật Tâm Ca, Tuệ Trung đã khẳng định Phật không phải bậc sáng tạo, thượng đế hay thiên thần gì cả; Phật là con người cụ thể, có thể luôn hóa hiện ngay giữa cõi đời trần tục “nhược tâm sinh tức thị phật sinh” (khi tâm sinh thì Phật sinh ), và Phật thị hiện giữa đời chẳng khác nào hoa sen thơm ngát vươn lên trong bùn lầy nhơ bẩn.

“liên nhị hồng hương bất trước nê” (nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm bùn) Như trong bài thị chúng mà ông đã cụ thể hóa bằng hình ảnh hoa sen. Thực ra, đây củng là chủ trương có từ thời đức Phật, sự chứng đạt là do tự thân tu tập mà vượt thoát từ trong cuộc sống trần tục. Tuệ trung dấn thân, sống dung tục mà đạt ngộ với tông chỉ của thiền sư tiêu diêu. Tông chỉ ấy, ông từng trả lời với Trần Nhân Tông ” hãy quay về tự thân mà tìm thấy tông chỉ, không thể từ ai khác”. Quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ là tự mình trở về chính mình để an trú giải thoát. Do đó ta chẳng ngạc nhiên gì Tuệ Trung trao tông chỉ cho Trần Nhân Tông, là phù hợp với tinh yếu lời Phật dạy.Thời Phật còn tại thế, các tăng sĩ tìm về tông chỉ trong nếp sống xuất gia, các cư sỉ thì tìm về tông chỉ ở đời sống xã hội.

Điểm sáng ở đây là vào đời Trần Ưng Thuận là cư sĩ – người truyền đạo cho tăng sĩ Tiêu Diêu, quấc sư Nhất Tông, Giới Ninh, Giới Thuận. Còn Tuệ Trung là cư sĩ – thầy truyền đạo cho Nhân Tông – người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm hoạt động cho đời thường, nhất là trong bối cảnh xã hội Đại Việt luôn chuẩn bị để đối phó và đập tan các cuộc chiến tranh ngoại xâm thường trực.

Đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền đời sống sinh hoạt của dân tộc. Chủ trương hòa Quang Đồng Trần, tức là phải hòa nhập vào đời sống trần tục và làm cho đời thêm sáng tươi là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ dành cho giới Phật giáo mà còn phải huy động toàn thể sức mạnh cả dân tộc. Trên cơ sở đó, chủ trương Hòa Quang Đồng Trần được phát biểu với nhiều dạng thức khác nhau trong các tác phẩm của Tuệ Trung và được vận dụng vào trong đời sống thực tiễn. Mục đích là làm hưng thịnh đạo pháp, tức là làm phồn vinh đất nước và ngược lại. Cho nên, mỗi cá nhân không thể tách rời cộng đồng, không thể buông bỏ cuộc đời, chỉ trong sinh tử mới tìm thấy không có sinh tử, ở trong phàm tục mới có bậc thánh giác ngộ ở đời. Với cái nhìn như thế, con người không còn phân biệt đối đãi giữa các cặp phạm trù niết bàn hay sinh tử, tội hay phước, phiền não hay bồ đề.

“niết bàn và sinh tử ràng buộc lỏng lẻo thôi

Phiền não và bồ đề coi thường cả sự đối nghịch của chúng”.

( Phật tâm ca )

2. Phật Và Chúng Sanh Không Khác.

Với chủ trương tùy tục, tích cực nhập thế và làm cho đời sáng tươi mà Tuệ Trung đề ra, con người không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức mình. Ngay từ đầu thời Trần, quấc sư Viên Chứng- thầy của Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm về Phật ” tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật ” ( lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật ).

Và sau đó, Trần Thái Tông thì phát biểu dứt khoát ” Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng “( thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng ). Tuệ Trung thì chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật Tâm Ca, còn trong Thượng Sĩ Ngữ Lục thì cho rằng khi mê thì không biết ta là Phật, hay Phật và chúng sanh không khác nhau ” mày ngang mũi dọc củng như nhau, Phật với chúng sanh không khác mặt ). Trần Nhân Tông trong Cư Trần Lạc Đạo thì tuyên bố ” Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa”. Như vậy, vào thời Trần, một quan điểm mới về Phật được hình thành trong bối cảnh đất nước Đại Việt đang nổ lực bảo vệ các thành quả của cha ông đạt được, củng như dốc lòng xây dựng và phát triển đất nước, ắt hẳn sẽ tạo sự tác động lớn vào tâm thức con người và xã hội. Mỗi khi tư duy về Đức Phật thay đổi thì nội dung sinh hoạt Phật giáo thay đổi hẳn. Chỉ cần lòng lặng mà biết, thân ta không khác thân Phật, khi tâm sinh thì Phật sinh thì ai củng thành Phật. Nói cách khác, ở đâu có con người, ở đó có sự giác ngộ của chân tâm, có sự sinh hoạt Phật giáo thiền tông trong bất kỳ môi trường nào

3. Nếp Sống Đạo Thiền – Suối Nguồn Hạnh Phúc:

Khi con người chấp nhận quan điểm Phật tại tâm và thể nhập vào đời sống thì có thể hiểu và hành động theo bản tâm chân thật của chính mình, mục đích là đem lại các giá trị hạnh phúc cho chính mình và mọi người. Một quan điểm về đức Phật như thế sẽ tạo ra cái nhìn mới về bản chất bình đẳng con người. Mọi người đều bình đẳng không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, giàu ghèo, nam nữ… vì họ đều có khả năng thành Phật ở đời. Nó sẽ tạo ra sự đồng cảm, không còn tự ti, mặc cảm mà tích cực hoàn thiện nhân cách cá nhân và sẵn sàng đóng góp cho đời cho đạo.

Mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân hiện hữu đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng, từ đó người ta dễ dàng thông cảm, chia sẽ và đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận một vấn đề để cùng nhau có một hướng giải quyết tốt đẹp nhất mà không có một thế lực nào chi phối.

Rõ ràng một lối sống thiền mà Tuệ Trung đề xuất như thế không có gì là cao siêu, huyền bí mà thật đơn giản, cụ thể, rất hiện thực hóa ở đời.

Phật giáo quan điểm hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau. Xem ra, hạnh phúc khởi nguyên từ trong thực tại để rồi tuôn chảy về thực tại nhiệm màu.

Trong ý nghĩa tận cùng đó, nếu có một người nào cố tình cắt chia thực tại bằng tư duy phân biệt, chẻ chia thì chẳng bao giờ có một giây phút bình an, hỷ lạc.Thực tế sinh mệnh con người từ khi cất tiếng khóc chào đời vốn đã bị trói mình trong các siềng xích từng ý niệm phân biệt giả hợp. Cho nên, con người vội vã tìm kiếm ảo giác hạnh phúc bên ngoài đời thường.   Kinh Viên Giác từng tuyên bố “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”, nghĩa là Phật pháp chỉ có ở thế gian này, ngoài thế gian này không thể có Phật pháp. Cho nên các học giả trong giới thiền học thường xuyên khuyến cáo đừng bao giờ chấp trước chẻ chia thế giới thực tại này thành Phật quấc hay địa ngục trần gian. Sự phân biệt này càng làm cho con người thêm thôi thúc tìm cầu vị ngọt chất chứa vị ngọt của “ái thủ”( sự yêu thương đối đãi và chấp trước). Chính thiền sư Hy Vận từng tuyên bố “nếu muốn thành Phật thì không cần phải học hết Phật pháp, chỉ cần học vô cầu, vô trước. Nếu không cầu, tức trở thành tâm bất diệt, bất sinh bất diệt tức là Phật”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ củng thế thôi, ông sống giữa đời nhưng thể nhập diệu tính của cuộc đời. Ông vượt ra ngoài thế giới lý luận để trở về hiện thực hằng ngày: (bỏ vọng tâm, tìm chân tính, giống như người tìm bóng quên gương. Nào biết có bóng từ trong gương mà ra, nào biết có cái vọng tâm dẩn đến từ trong cái thực. Cái vọng đến thì chẳng thực củng chẳng hư, cái gương tiếp nhận không tà củng không chính, không có tội, không có phúc, lẫn cả hạt trai và ngọc trắng. Ngọc thì có vết mà hạt trai thì có tỳ, còn linh thì không đỏ củng không xanh (Phật tâm ca ). Đạo Phật là đạo giải thoát, giải thoát mọi hệ lụy của cuộc đời. Kinh Kim Cương dạy rằng ” phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, thế nên Tuệ Trung đã mời gọi mọi người hãy từ bỏ những công ước, những giới điều trói buộc tâm thức con người, hãy lên đường bước vào đời sống và thể nhập thực tại.

Hãy an trú vào chánh niệm, giải thoát luôn có mặt trong cuộc sống hằng ngày. Ông đã truyền cái sức sống mới, niềm tin mới khác mà những gì họ sống họ hành động.

Qua Phật Tâm Ca Tuệ Trung Thựng Sĩ đã cho ta thấy rằng con người Đại Việt trong Ông chính là con người giải thoát chứng đắc ngay giữa cuộc đời ô trược qua tư tưởng Hòa Quang Đồng Trần: ngoài ra Ông củng khẳng định rằng trong mỗi con người, mỗi chúng sanh đều có Phật tính và khả năng chứng đắc quả vị như đức Phật vậy.

Và muốn đạt được điều đó Ông đã vạch ra một phương châm sống rất hiện thực đó là sự xa lìa cấu nhiễm trần tục, cởi bỏ vòng dây tham ái, sống một nếp sống tự tại vô nhiễm ấy chính là nguồn hạnh phúc đích thực mà con người cần đạt đến.

C. Lời Kết:

Qua phần tìm hiểu về ba tác phẩm của ba vị thiền sư danh tiếng: Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông; Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông và Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã giúp người viết cảm thụ sâu sắc về những giá trị của nền Văn Học Phật Giáo với những lời lẽ rất dung dị nhưng lại chứa đựng biết bao nguồn giáo lý sâu xa thông qua hình ảnh nỗi bật về một nhân cách sống của con người Đại Việt.

Nếu như Trần Thái Tông hình ảnh con người của Ông hiện lên với những đức tính nhân từ độ lượng và đỉnh cao đó là lòng từ bi tuyệt đối của sự giác ngộ giải thoát; thì ở Trần Nhân Tông con người của Ông chính là sự biểu hiện của sự thong dong tự tại không bị vướng mắc vào bất cứ cái gì mà cứ an nhiên như áng mây bay, như dòng suối chảy theo quy luật tự nhiên của chúng đồng thời con người ấy phải biết hòa nhập vào trần đời ô trược để cùng sẽ chia gánh vác những trọng trách của đất nước nhằm góp phần mang lại sự bình an cho mọi người.

Còn với Tuệ Trung Thượng Sĩ con người trong Ông củng rất cao cả đó củng là khát khao mang ánh sáng Phật pháp, sự chứng đắc của tự thân hòa vào cuộc đời để mong sao con người thoát khỏi vũng bùn nhơ tăm tối mà hưởng được mùi thơm của hương sen giác ngộ và điều đó Ông nghĩ tất cả mọi chúng sanh đều có thể làm được bởi lẽ Ông đã từng khẳng định ”Phật và chúng sanh không khác”         Như vậy, có thể xem ở mỗi con người, mỗi cách nhìn của mỗi vị về hình ảnh con người Đại Việt tuy có hơi khác nhưng có thể nói những điểm tương đồng về chân giá trị của con người là rất giống nhau. Con người đích thực ấy chính là sự thiết lập cho mỗi tự thân trong cộng đồng xã hội  một lối sống vững chãi để không bị những ngọn gió của tham dục chi phối xô ngã để từ đó mang năng lượng, phẩm chất đạo đức ấy dấn thân vào trần thế làm lợi lạc cho cuộc đời mà vẫn giữ được sự thanh khiết, dáng tự tại như hình ảnh thoát tục rạng ngời của một vị Bồ Tát hóa thân.

Thích Nguyên An

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặc Trưng Tinh Thần Thiền Học Của Trần Thái Tông, Trần Lý Trai, Đại Học Khoa Học Xã Hội V& Nhân Văn ấn hành.

2. Thơ Văn Lý Trần Tập II, quyển thượng, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn 1988.

3. Văn Học Phật Giáo Thời Lý – Trần, diện mạo và đặc điểm, Nguyễn Công Lý Nxb Đại Học Quấc Gia TP. HCM 2003.

4. Tổng Hợp Văn Học Phật Giáo Việt Nam Tập 1,2,3, Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản TP. HCM 2001.

5. Phật Giáo Trong Thời Đại Chúng Ta, nhiều tác giả, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2005.