A.    DẪN NHẬP
Như chúng ta đã biết, mỗi khi nói đến lịch sử là nói đến một sự kiện vô cùng quan trọng đánh dấu một chuổi dài sự kiện lịch sử hình thành, phát triển và tan rả của một từng lớp, xã hội, sự kiện của một quốc gia nào đó hay là một chuổi câu chuyện dài nào đó gắn liền với quốc gia đó làm nên một chiến công vẻ vang hay sự suy sụp của một nền kinh tế, hay một chiến công oanh liệt tạo nên một đất nước hòa bình…Nói chung, nói đến lịch sử là nói đến tiến trình vận động và phát triển của cá nhân, tập thể, cộng đồng……vận động là cơ thể sống chứ không phải cơ thể chết. Tiến trình vận động bao giờ cũng như một dòng sông trôi chảy mãi không ngừng, dù cho thời gian có trôi qua mau chăng nữa nhưng lịch sử vấn là lịch sử. Điều đó là hiển nhiên. Vì vậy, khi nói đến xã hội Đại Việt thời Lý-Trần cũng vậy. Nó khônng nằm ngoài mục đích đó. Vì sao? Vì thời đại Lý-Trần là thời đại đánh dấu cột mốc đất nước đang trên đà phục hưng dân tộc sau hơn mười thế kỷ bị lệ thuộc bởi phương Bắc.
B.    NỘI DUNG
I.    Bối cảnh lịch sử hai nhà Lý-Trần
1.    Triều đại nhà Lý (1009-1225)
Cuối năm Kỷ Dậu (1009), ngay sau khi vua Lê Ngọa Triều qua đời, đại diện cho quan lại và nhà sư là Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh đã cùng nhau hợp lực tôn phò Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Tháng 10 năm đó triều Lý đựơc chính thức khai sinh. Nhà Lý truyền đựơc 9 đời, trị vì đất nước tổng cộng 215 năm. Cũng trong thời này nhà Lý nền giáo dục và thi cử trong Nho học đã chính thức được khai mở, đồng thời bộ luật pháp thành văn đầu tiên của lịch sử nước nhà đã được biên soạn. Thời Lý kinh đô của nước ta là Thăng Long và quốc hiệu là Đại Việt. Nhà Lý đã lãnh đạo thành công cuộc chiên tranh vệ quốc vĩ đại chông quân Tống xâm lăng năm Đinh Tị (1077). Trứơc đó nhà Lý cho quân tiến vào Chiêm Thành trừng trị những hành vi quấy phá vùng biên ải phía Nam của Đại Việt. Trong lịch sử Việt Nam, triều Lý là một triều đại lớn, là một cường quốc ở Đông Nam Á, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Về chính trị: đây là một trong hai triều đại tiêu biểu  của chế độ quý tộc trị nước. Đây là hai triều đại tiêu biểu của chế độ quý tộc trị nước, về kinh tế, đây cũng là một trong hai triều đại điền trang, thái ấp, về văn hóa, triều Lý được các nhà nghiên cứu ghép chung với triều Trần và lấy tên chung đó đặt cho cả một giai đoạn từ thế kỉ thứ X, thời Lý có mấy sự kiện như sau: Sau khi lên ngôi Lý Công Uẩn ban hành nhiều sắc lệnh nhằm cứu vãng tình hình chính trị, kinh tế. Công việc đầu tiên là xóa hết thuế nợ cũ cho những người mồ côi, già yếu hoặc tàn tật…..Đồng thời xóa thuế cho nhân dân trong ba miền. Đây là việt làm mang tính nhân đạo thể hiện niềm tin của vị vua đương triều.
Ông còn cho đốt hết cung nõ và chài lứơi, còn phóng sanh chim chóc…..ông còn ban bỏ ngục tụng và cho phép nhân dân hể ai có điều oan trái thì đến gặp trực tiếp vua , ông sẽ đích thân xét sử. Ông phát hiện ra một thế ưu việt và nhanh chóng thực hiện việt dời đô ra thành này. Tháng 7 năm 1010 triều Lý dời đô từ Hoa Lư ra La Thành và đổi tên gọi La Thành gọi Thăng Long kể từ đó.
Đến đây, ông chỉnh lại bộ mấy nhà nước lại cho một phạm vi quyền hạn là trên là vua và kế đến là những người thân tộc và những người có công đều cho giữ vào các chức quan trọng. Họ làm việt dưới sự điều khiển của vua và đựơc chia thành chín phẩm trực tự cao thấp khác nhau. Đứng sau các vị đại thần là quan lại…..Năm 1054, triều Lý đặt quốc hiệu mới cho nước là Đại Việt. Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận ta là một quốc gia riêng. Từ đây ngừơi Trung Quốc gọi nước ta là An Nan Quốc.
Về kinh tế: Vào thời cổ trung đại ruộng đất bao giờ cũng là tư liệu sản xuất phổ biến và quan trong nhất. Sự thiết lập của mỗi triều đại chỉ là thiết lập quyền chi phố tư liệu sản xuất chủ yếu này. Nhìn một cách tổng quát nhà Lý ban hành những chính sách ruộng đất như sau:
Thứ nhất chính sách ruộng đất công, thời này ruộng đất công được coi như của thế chế trung ưong tập quyền. Trên cơ sở tập quyền nhà Lý đã ban hành nhiều chính sách ruộng đất lớn sau:
Chế độ thực phong-thực ấp là chế độ ban đất cho quý tộc họ Lý. Nhà Lý không những ban cấp đất mà còn cho những hộ dân sống trên mảnh đất đó cho ngừơi hửơng chế độ này. Tuy mất độ cấp cho khác nhau nhưng nhìn chung họ phải nộp thuế chịu lao dịch và đi lính cho người được phong.
Chế độ thác đao điền là chế độ có ý nghĩa như một thể lệ dung ruộng đất để thưởng công cho quan lại. Tên của chế độ này gắng liền với truyền thuyết về Lê Phụng Hiểu. Khi Lý Thái Tổ qua đời có ba hoàng tử xuất binh đánh nhau để giành ngôi với Lý Phật Mã. Nhờ có tài và có vỏ nên Lý Phụng Hiểu đã dẹp được cuộc nổi loạn này. Khi Lý Phật Mã hỏi công ban thửơng thì Lê Phụng HIểu xin về quê nhà đứng trên đỉnh băng sơn để ném dao, dao rơi tới đâu thì nhận ruộng tới đó. Về sau để ghi nhớ công lao của Lý Nhật Hiểu nên nhà Lý ban hành chế độ ban cấp ruộng đất, gọi là thác đao điền.
Quốc khố quan điền và tịch điền là chế độ trưng dụng một số ruộng đất của triều đình trực tiếp quản lý và tổ chức sản xuất…Đây cũng là một trong hai triều đại tiêu biểu của chế độ điền trang-thái ấp.
Về quân sự: Năm 1069, đánh vào Chiêm Thành phá tan âm của nhà Tống trong việt lợi dụng Chiêm Thành để tấn công xâm lược nước ta. Cuối năm 1975, đầu năm 1976 bất ngờ cho quân tràn sang lảnh thổ Trung Quốc, phá tan tiềm năng xâm lăng mà nhà Tống đã dày công chuẩn bị và tập hợp ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm.Tháng 3 năm 1077, toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt , đè bẹp hoàn taòn ý chí xâm lăng của nhà Tống đối với nước ta.
Về văn hóa: Triều Lý được các nhà nghiên cứu ghép chung với triều Trần và lấy tên chung đó để đặt cho một giai đoạn thành công lớn, từ thế kỷ thứX đến hết thế kỷ XV. Năm 1070, cho lập văn miếu (nơi thờ Khổng tử và các bậc tiền bối nhà Nho) mở đường cho Nho học phát triển ở nước ta một cách mạnh mẽ hơn. Năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu tiên, từ đây thi cử nho học được coi là một trong những cơ sỡ để chọn lựa quan tài.
Năm 1076 cho lập quốc tử giám ở ngay giữa kinh thành Thăng Long. Tuy nhiên lãnh thổ nước ta từ năm 1069 có được mở rộng hơn. Năm nay đại Việt đánh Chiêm Thành và gắn liền với thắng lợi trận này triều Lý đã chiếm của Chiêm Thành ba châu (Địa Lí, Ma Linh và Bố Chính) đối chiếu với bản đồ hiện đại ba Châu này nay tương ứng với toàn bộ tỉnh Quảng Bình cộng với một phần phía bắc tỉnh Quảng Trị. Cùng với quy luật phát triển tự nhiên việc mở rộng lãnh thổ này ắt có thể làm cho dân số tăng nhiều hơn trước.
Triều Lý trải qua các đời vua sau đây:
– Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)1010 -1028
– Lý Thái Tông (Lý Phật Mã)1028 -1054
– Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tôn)1054 -1072
– Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức)1072 -1127
– Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán)1128 -1138
– Lý Anh Tông (Lý Thiên Tộ)1138 -1175
– Lý Cao Tông (Lý Long Trát)1175 -1210
– Lý Huệ Tông (Lý Hạo Sâm)1210 -1224
– Lý Chiêu Hoàng (Lý Phật Kim)1224 -1225
2.    Triều đại nhà Trần (1225-1400)
Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Triều Trần được dựng lên kể từ đó. Triều Trần (1225 -1400) là một trong những triều đại lớn của lịch sử Việt Nam. Nhìn chung thể chế chính trị, kết cấu giai cấp xã hội, đặc trưng kinh tế và văn hóa của triều Trần có những điểm tương đồng với triều Lý, khác nhau cũng chỉ ở mức độ mà thôi. Thời Trần, Đại Việt là một trong những quốc gia hùng cường, có uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kiêng sợ, lân bang phải kính nể. Thời Trần là thời của hàng loạt những nhân vật lịch sử sáng chói.
Về chính trị : thì có các vị vua rất nổi tiếng như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và các vị vương tước xuất chúng, mà nỗi bật nhất là Trần Nhân Tông. Năm 1258 vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng để lên làm thượng hoàng. Chế độ nhường ngôi để lên làm thượng hoàng được bằt đầu chính thức kể từ nay. Việc cho phép quý tộc thiết lập phủ đệ ở thái ấp riêng đã mở đường cho quý tộc họ Trần vương tới tột đỉnh của quyền lực chính trị đương thời.
Về quân sự : thì có các vị mưu sĩ và các bậc dũng tướng như Trần Thủ Độ, Lê Tần, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Địa Lộ… mà anh hùng nhất là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Người đã khai sinh ra nền khoa học quân sự Việt Nam. Năm 1258 , triều Trần đã đẩy lùi cuộc tấn công xâm lược của quân Mông Cổ do tướng Ngột- lương-hợp-thai chỉ huy. Năm 1285, triều Trần lại đánh tan hơn nữa triệu quân Nguyên xâm lược. Năm 1288, thắng trận Bặch Đằng lịch sử, quân dân triều Trần đã đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Nguyên.
Về văn hóa : đây cũng là triều Đại đã sản sinh cho lịch sử những nhân vật kì tài như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thương Sĩ, Trần Hưng Đạo.v.v… Trải qua gần 200 năm cầm quyền, triều Trần đã để lại cho lịch sử những dấu ấn sâu sắc trên nhiều lãnh vực khác nhau. Sau đây là những dấu ấn đáng lưu ý nhất. Năm 1232 triều Trần đặt ra học vị Thái Học Sinh (từ năm 1442 gọi là tiến sĩ).
Năm 1247 triều Trần định lệ Tam khôi là danh hiệu cao quí dành riêng cho ba người đỗ cao nhất trong kì thi Đình (đó là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa). Cũng trong triều Trần, từ vị trí của chữ viết bổ sung cho chữ Hán, chữ Nôm đã được dùng để sáng tác văn học, tức là đã tiến tới giai đoạn chữ viết văn học.
Năm 1306, lãnh thổ nước nhà có được mở rộng, do việc vua Chiêm Thành lúc đó là Chế Mân đã cắt đất Châu Ô, Châu Rí (cũng viết là Châu Lí) dâng cho Đại Việt để làm sính lễ cứơi công chúa Huyền Trân.
Năm 1230, nhà Trần cho biên soạn bộ Quốc Triều Thông Chế và coi đó là tiêu chí, là cơ sở khảo xét để xây dựng quy chế hành chánh cho triều đại của mình, cũng ngay trong năm 1230 bộ quốc triều dương lễ đã ra đời. Năm Năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia lại khu vực hành chánh địa phương trong cả nước.
Về y học và thiên văn : Trong triều đình, cơ quan Thái Y Viện đã hoạt động rất có hiệu quả. Trong xã hội đội ngũ những nhà y học cũng ngày một đông . Phạm Bân là thầy thuốc được truyền thuyết cũng như thư tịch cổ khen ngợi. Y học lúc này phát triển trên cơ sở  kế thừa và phát huy những giá trị cổ truyền của tổ tiên, ông bà, vừa tiếp thu những thành tựu của các nền y học khác, đặc biệt là nền y học Trung Quốc.
Thời này thiên văn cũng tương đối phát triển. Sử củ chép rằng: có người nhà quê ở Hà Tây ngày nay tên Đặng Lộ đã chế ra một dụng cụ đơn giản để quan sát thiên văn và khảo sát khí tượng, gọi là lung linh nghi.
Triều Trần trải qua các đời vua như sau:
-Trần Thái Tông (1225-1258)
-Trần Khánh Tông (1258-1278)
-Trần Nhân Tông (1278-1293)
-Trần Anh Tông (1293-1314)
-Trần Minh Tông (1314-1329)
-Trần Hiến Tông (1329-1341)
-Trần Dụ Tông (1341-1369)
-Trần Nhật Lễ (1369-1370)
-Trần NHuệ Tông (1370-1372)
-Trần Duệ Tông (1372-1377)
-Trần Phế Đế (1377-1388)
-Trần Thuận Tông (1388-1398)
-Trần Thiếu Đế (1398-1400)
II.    Cơ sở dung nạp Tam giáo thời Lý-Trần
Tam giáo là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo. Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang, Đạo giáo và Nho giáo thì từ Trung Hoa truyền sang. Dân tộc ta đã hài hòa ba đạo này lại thề hiện qua thái độ sống chứ không phải hòa chung Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo với nhau. Nhìn chung nhà nước Lý-Trần đã chủ trưong một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian Phật, Đạo, Nho. Đó là hiện tượng tam giáo đồng nguyên, tam giáo tịnh tồn vào thời kỳ này. Khi đất nước độc lập, cũng là lúc uy tín và vai trò xã hội của lực lựơng Phật giáo được khẳng định. Các vua chọn Phật gíao làm điểm chính thống để được lòng dân hơn hai tôn kia.
Vì vậy thời Lý-Trần Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Lúc này các nhà sư đều có học thức như thiền sư Vạn Hạnh, Pháp Thuận…đều dậy cho quan lại. Hầu hết các vua thời Lý-Trần đều tôn sùng đạo Phật nên bỏ nhiều tiền để tôn tao chùa chiền, tạc tượng, đúc chuông, dịch kinh….Ngoài Phật giáo, Nho và Đạo giáo cũng đựơc lan truyền. Thời Lý các đạo sĩ luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngữơng tâm linh. Họ thừơng được triều đình mời vào làm lễ tống trừ ma quỷ vào dịp lễ tết, trấn yểm các vùng sông núi…..thời này có các đạo sĩ nổi tiếng như Thông Huyền đạo nhân…..thời này triều đình thường hay mở hội kén chọn những người có kiến thức rộng về ba hệ tư tửơng này để triều đình dung hợp thành một tư tưởng thống nhất để cai trị nhân dân.
Cuối đời Trần Nho giáo hóa đời sống chính trị, xã hội diễn ra phức tạp, một mặc Nho giáo tuyên truyền đạo mình, bài xích Phật giáo. Nhưng Phật giáo vẫn đứng hiên ngang hùng vững như một cây cổ thụ đại thọ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Phật, Nho và Đạo giáo đã tạo nên một nền văn minh nước Đại Việt rực rở và tinh hoa . Đây là thời văn hóa Đạt Việt thịnh đạt nhất như lời của Lê Quý Đôn nhận định “nước Nam ở hai triều Lý-Trần nổi tiếng và văn minh”. Đó là sự kết hợp ba sắc màu văn hóa dân gian với văn hóa bác học cung đình. Sự kết hợp tạo ra nét riêng biệt của văn hóa Đại Việt của các triều đại này.
III.    Đời sống tư tưởng của xã hội Đại Việt thời Lý-Trần
Như chúng ta biết, chi phối xã hội Đại Việt mạnh nhất vẫn là Phật giáo. Nếu như thời Lý dòng thiền tông Thảo Đường đã xuất hiện, thì sang đời Trần, dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử cũng ra đời. Trong nước chùa chiền mọc lên rất nhiều, số lượng các nhà cao Tăng rất nhiều. Trong đó có một số Hoàng Đế nhà Trần cũng đi xuất gia theo Phật giáo. Sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm chính là Trần Nhân Tông. Thế lực của các nhà sư trong xã hội đương thời rất hùng hậu. Trong giai đoạn này có cùng chung thịnh với Phật giáo là Đạo giáo. Tuy nhiên gắng liền với sự phát triển lâu dài trứơc đó của Nho giáo, vào cuối đời Trần địa vị quan trọng của Phật giáo và Đạo giáo cũng được đẩy lùi. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nứơc nhà Lý-Trần đã mở rộng nền giáo dục và thi cử Nho học. Tầng lớp Nho sĩ xuất hiện trong xã hội đương thời ngày càng nhiều và bộ phận cực đoan nhất của tầng lớp đó đã táo bạo tấn công vào cả Đạo giáo lẫn Phật giáo.
Vào thời Lý (1009-1225), mùa hạ năm Đinh Mùi (1187), dưới thời Lý Cao Tông (1175-1210), có người Tây Vức đến nước ta, khi thì xưng nhà sư, khi tự sưng là Đạo sĩ. Khi ở Thăng Long, Lý Cao Tông đã giao cho quan giữ chức Chi Hậu Phụng Ngự là Lê Năng Trừơng tổ chức cho người này biểu diển phép giáng hổ. Lần thứ nhất hắn bị Cọp gầm mà hoản sợ. Lần thứ hai hắng bị Cọp vồ mà không hề bị thương, nhưng lại chết vì khiếp sợ.
Vào thời Trần (1225-1400), có một số đạo sĩ được các sử sách chép đến, họ từng có mặt trong cung đình và tạo ra những ảnh hửơng nhất định đối với hoàng đế cũng như hoàng tộc và triều đình.
Năm Mậu Thân (1248), triều đình nhà Trần “sai các nhà phong thủy đi xem khắp các sông cả nước, chổ nào có vượng khí Đế Vương thì phải dung phép thuật đề trấn yểm, cho nên mới có việc đào song Bà Lễ, đục núi Chiêu Bạc ở Thanh Hoa, còn nhu việc lấp khe mở đường ngang dọc thì nhiều không sao kể hết. Đó là làm theo lời đề nghị của Trần Thủ Độ”. Về sự kiện này, sử thần Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn với ý chê bai khá rỏ. Ngoài ra còn ảnh hưởng của các ngành ngề mà trước đó chưa hề có như: Thiên văn, Địa lý, Sử học, Khoa học và Quân sự….Rồi trong lãnh vực giáo dục thi cử cũng vậy. Xu hướng chính quy và chặt chẻ nhanh chóng được xác lập và không ngừng phát triển mạnh, các khoa thi từ thấp đến cao và tuyển tập được nhiều nhân tài. Đây là một vài trong số những tư tưởng trào lưu của một số đạo giáo ấy. Làm ảnh hửơng đến  đời sống tư tưởng của hai nhà Lý- Trần.
Đó là sự tiếp thu và không ngừng việt hóa các thành tố ngoại nhập, khiến cho các thành tố này đếu biến thái, vừa khác dần với nguồn gốc ban đầu, vừa có ý nghĩa thiết thực đối với xã hội người Việt. Tất cả những ý kiến tốt đẹp và phù hợp với sự nghiệp dựng nước và giữ nứơc đều dược tổ tiên ta trân trọng đón nhận theo các riêng của mình. Thực tế cho thấy, có một Nho giáo Việt, Phật giáo Việt, Đạo giáo Việt, ngoài tư tưởng và tín ngữơng các trào lưu văn hóa khác cũng trong quá trình tiếp nhận và biến thái theo quy luật chung này.
C.    KẾT LUẬN
Lịch sử Việt Nam đã trải qua biết bao nhiêu sự thây đổi vận mệnh cuả đất nứơc. Những biến chuyển dữ dội, những cuộc chiến tranh thần tốc chống đoàn quân xâm lược của ngoại ban vào nước ta. Trãi qua các thời kỳ kể từ khi Khúc Thừa Dụ dựng nghiệp tại xứ Giao châu cho đến đời nhà Lê mà cuối cùng là Lê Long Đĩnh, các thế hệ ấy liên tiếp với nhau tiếp nối sự sơ khởi về ý chí hình thành một chính quyền tự chủ của người dân Đại Việt, chính ngọn lửa đấu tranh hùng hồ quyết liệt của cha ông thời bấy giờ đã khẳng định với quân giặc phương Bắc rằng: nhân dân Đại Việt với tinh thần yêu nước, với một sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc và với ý chí hào hùng mà đã trãi qua các cuộc chiến cam go trong lịch sử và cuối cùng giành lại được chủ quyền độc lập ngay trong tay của bọn đô hộ phương Bắc. Cũng chính trong thời sơ khởi của việc tự trị này đã trở thành một vai trò như là một tiền đề to lớn trong việc xây dựng chính quyền tự chủ trở về sau của nước nhà về các mặt chính trị, kinh tế, ngoại giao… và kết cấu lại chính quyền trong nước, nhất là phá tan đi ý chí thấp hèn của nhân dân ta xưa với quan niệm là “nước giặc to, nước ta nhỏ làm sao chống cự nỗi, cứ mãi là người bị cai trị của phương Bắc mà thôi”. Triều đại Lý-Trần đã trãi qua 400 năm thống trị, đã đem lại cho nhân dân đất Việt những ngày ấm no, hạnh phúc. Họ còn tạo nên những trang sử vàng son cho đất nước, đóng góp cho văn học nước nhà một giai đoạn rực rỡ.
Triều đại Lý-Trần đào tạo ra những bậc anh hùng lỗi lạc trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như xây dựng đất nước phồn vinh, đem lại sự an lạc cho xã hội, điển hình như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đã hai lần chiến thắng quân Nguyên và ba lần chiến thắng quân Tống đã đi vào sử sách. Bên cạnh những thành công oanh liệt ấy lại còn có một tinh thần chiến đấu của nhân dân và sự lãnh đạo sáng suốt của các vị vua.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s