bai tieu luan mon lich su Phật giao An Độ

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ HƯỚNG DẪN

  1. A.    DẪN NHẬP………………………………………………………………..
  2. B.     NỘI DUNG……………………………………………………………………
    1. Nguồn gốc vua Kanishka………………………………………………….
    2. Nguyên nhân đến với Phật giáo……………………………………….
    3. Sự nghiệp của vua đối với Phật giáo……………………………………
    4. Nguyên nhân dẫn đến kết tập kinh điển lần thứ tư………………
    5. Trách nhiệm của một Phật tử đối với đạo pháp…………………………….
    6. C.    KẾT LUẬN…………………………………………………………………..
    7. D.    TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. A.    Dẫn nhập:

Cuộc đời củavua Kanishka chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong công cuộc hoằng dương Phật pháp. Thế nhưng, tiểu sử và sự nghiệp cũng như hoàn cảnh xuất thế của ông từ xưa chưa được xác minh và công bố rộng rãi. Người viết bài này xin thu thập một số tư liệu để giới thiệu đôi nét về vị vua lỗi lạc này, hầu giúp độc giả có được một cái nhìn xác đáng hơn về cuộc đời của vua Kanishka, một trong bốn vị vua có công rất lớn trong sự nghiệp xiển dương chánh pháp và truyền bá giáo lý của đạo Phật trong nước cũng như nước ngoài, đáng để cho chúng ta kính ngưỡng và ghi nhớ đó là vua Asoka, Kanishka, Milinda và vua Harsha. Nhưng ở đây người viết chỉ nói về “cuộc đời vua Kanishka trong sự nghiệp phát triển Phật giáo tại Ấn Độ cổ đại”. Đó là lý do người viết chọn đề tài này làm nhan đề cho tập tiểu luận.

Dù đã cố gắng nhưng không sao tránh khỏi những sai sót về cách hành văn cũng như cú pháp. Ngưỡng mong trên giáo sư hướng dẫn cũng như quý học giả góp ý cho quyển tiểu luận lần sau được thành công hơn.

  1. B.     Nội dung.
  2. 1.      Nguồn gốc vua Kanishka.

Có người cho rằng: ở “Trung Quốc, vào khỏang giữa thế kỷ thứ III TTL, Tần Thỉ Hòang thống nhất đất nước và cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành hoàn tất vào năm 221 TTL, nhưng thực chức Tần Thủy Hoàng xây dựng chưa xong và truyền cho các vị vua kế nhiệm rồi lần lần đến đời nhà Minh mới xây dựng xong, mục đích xây dựng công trình này để ngăn chặn và đuổi giặt Rợ Hung Nô ở phía Bắc ra xa bờ cõi. Giặt Rợ Hung Nô vì thế di dân sang phía Tây đánh đuổi những bộ tộc Yuezhi (Nguyệt Chi hay Nhục Chi) sinh sống ở lưu vực Tarim (Xinjiang và Kansu ngày nay) đến vùng sông Ili vào khỏang 175 TTL. Đến lược họ lại đẩy các bộ lạc Sakas (mà tiếng Hy-lạp gọi là Scythians), có nguồn gốc Mông cổ, di dân về phía Nam và Tây vào các xứ Parthia khỏang 138-124 TTL, rồi năm 130 TTL vào Bactria. Các bộ lạc Yuezhi tiếp tục xâm lấn vào Bactria, và đuổi dân Scythians vào Afghanistan và phía Bắc Pakistan trong thunglũng sông Indus”[1].

Những người dân ở phía ngoài Vạn Lý Trường Thành họ cảm thấy bỏ rơi nên họ di cư về phía Tây Nam Á Trung Quốc. Họ di cư từ miền Bắc đến miền Nam Tây Nam qua tới vùng Cam Túc vùng Tân Cương, nên thành lập năm bộ tộc “một là Hưu Mật, hai là Song Mi, ba là Quí Sương, bốn là Khoa Ðốn, năm là Ðộ Mật”[2].Năm Linh Hầu này kết hợp thành năm liên minh, liên minh này rất lỏng lẻo họ thường đánh nhau. “Khoản thế kỷ thứ I trước tây lịch trong 5 chư hầu đó có tộc trưởng Kujula Kadphises thuộc Kusana (Quý Sương hầu) thế lực mạnh hơn cả, liền nổi lên diệt 4 chư hầu khác và lập ra vương triều Kusana, con của Kujula Kadphises là Wema Kadphises nối nghiệp lại đem quân chinh phục các nơi và chiếm các nước Kasmitra và Gandhàra, các nước thuộc Bắc Ấn cùng một bộ phận Tây Ấn, thế lực ngày một mạnh và trở thành một đế quốc tại Trung Á tế Á, sau vua Kanishka kế vị nước này là ngôi thứ ba thuộc vương triều Kusana(Quý Sương hầu) niên hiệu không rỏ ràng nhưng đại khái thế kỷ thứ 1 năm 78-144A.D”[3].

Sau khi ông lên ngôi đem quân đánh tràng các bộ tộc nhỏ khác và ông đánh tràng các vùng Trung Á, thây thế hết các vương quốc nữa Á nữa Âu hậu duệ của vua Alaxender rồi đánh tràng ra phía Bắc Trung Quốc, phía Bắc giáp với Pha-kít-tăng (Liên-sô) “ông chiếm vùng thung lũng Tịnh Khắc Thập Mễ, rồi cũng cố sự thống trị lưu vựt sông Ấn và sông Hằng, ông từng đánh nhau với nước An-Tức đồng thời ông thống lĩnh chinh phạt các thành quốc Tây vựt vốn đã xưng thần với triều Hán như nước Vu Điền ,Tao Xa, Sơ Lặc”[4]. Và chiếm luôn thủ phủ của vua A-Xà-Thế và đánh tràng xuống phiá Bắc Ấn Độ. Rồi ông một mặt đánh chiếm toàn Bắc bộ mặt khác xâm lấn đến Trung bộ Ấn và lan sang chiếm cả Ba-Tư lẩn Iran về miền Tây mở thành một đế quốc rộng lớn gần với công nghiệp của vua Asoka.

Mặt Đông thì với Trung Quốc, mặt Tây tới tận La Mã, do hấp thụ được tổ chức chính trị kinh tế và học vấn của cả Đông lẫn Tây nên đã thấm nhuần văn hóa Hy Lạp, nó dung hòa pha trộn nữa Á nữa Âu nên tiếng nói của họ nữa Á nữa Âu. Như vậy vương quốc của ông bây giờ rất rộng.

“Nguồn dữ liệu để biết về vua Kanishka thì dựa vào Hậu Hán thư và bia ký Raphtar và một số huyền thoại được giữ lại bằng tiếng trung Á”[5].

Sách Hậu Hán thư do Ban Cố soạn là cha của Ban siêu ông này là cha của Ban Dũng. Tuy nhiên về niên đại thì có rất nhiều sách nói như: “năm 57, trước năm 9, năm 43, 60-65, 78-103……132, 148. Giới học giả Tây phương cho rằng: Kanishka tại vị khoản 120-144 năm. Giới học giả Ấn Độ cho rằng: vua lên ngôi năm 78 (tức cái gọi là bắt đầu kỷ nguyên cơ già)”[6].Rồi cũng có rất nhiều sách sử ghi chép về niên đại về vua Kanishka, cho nên cũng không chính xát lắm, nhưng ở đây chỉ nêu lên những sách sử chính mà thôi:

Tăng già La Xát Bảo Sở và Tạp Bảo Tạng ghi lại là 700 năm vào khoản thế kỷ thứ VI.

Bài tựa Tỳ Bà Sa luận ghi lại là 800 năm sau khi Phật nhập niết bàn.

Truyện về ngài Thế Thân thì cách Phật nhập niết bàn khoản 500 năm.

Sách Lạc Dương già Lam Ký ghi lại là 300 năm thế kỷ thứ tư sau tây lịch.

Đại Đường Tây Vứt Ký của Trần Huyền Trang ghi lại là 400 năm.

Tam Quốc Chí Ngụy Thư thế kỷ thứ II sau tây lịch khoản 100-200 năm.

Ngụy Thư nói 800 năm thế kỷ thứ II sau tây lịch”[7].“Cho đến nay đã có 3 cuộc hội nghị chuyên đề tại Luân Đôn để giải quyết việc này vẫn chưa đem lại kết quả cụ thể.

Gần đây những bàn luận đã tập chú vào thời kỳ từ năm 100 đến 140 TL. “Nhưng vào năm 2004, nhờ vào một khám phá trong việc nghiên cứu của Harry Falk thấy rằng thời trị vì của Kanishka đã được dân Kushan xưa dùng làm niên đại đầu của lịch mới trong suốt một thế kỷ cho đến khi đế quốc bị tan rã, nên nhiều người thấy năm đăng quang của Kanishka là 127 TL có vẻ khả tín hơn. [Falk, Harry (2001):“The yuga of Sphujiddhvaja and the era of the Kuṣâṇas.” Silk Road Art and Archaeology VII, pp. 121-136.]”[8].

  1. 2.      Nguyên nhân đến với Phật giáo.

Nói đến nguyên nhân thì trong các sử liệu Phật giáo ghi rất nhiều nhưng tựu trung thì:  “Trong Tạp Bảo Tạng ghi rằng: khi đó ông vua vừa ngu vừa thô lổ và hung ác, ông đối xử với các thầy Tỳ Kheo rất độc ác, có một thầy Tỳ kheo không rỏ tên gì đã chứng quả A La Hán đã nhìn thấy ác nghiệp mà vua tạo, nên dùng thần lực của mình đưa vua xuống địa ngục và ông sợ quá nên ông đến với Phật giáo”[9].

“Đức Như Lai Thích Ca ngồi day mặt về hướng Nam bảo ngài A Nan rằng: bốn trăm năm sau khi ta nhập niết bàn, có một vị vua ra đời hiệu là Kanishka, sẽ xây dựng một ngôi tháp ở cách đây không xa về hướng Nam để thờ phụng, phần lớn xá lợi xương và xá lợi thịt của ta. Phía Nam cây Bồ Đề này có ngôi Phật tháp do vua Kanishka cho xây dựng nên.Vua Kanishka làm vua bốn năm trăm năm sau khi Phật nhập niết bàn. Nhà vua thừa lệnh trời cai trị đất nước này, vốn là nguời không tin thuyết nhân quả xem thường Phật pháp, có lần vua đi săn gặp con Bạch tượng, khi vua đích thân đuổi theo thì không thấy Bạch tượng đâu cả, gặp chú bé chăn Trâu đang lui xui xây ngôi Phật tháp cao khoản ba thước dưới bóng cây rừng. vua hỏi: cháu làm gì đó? chú bé chăn Trâu nói: Thưa ngài ngày xưa đức Phật Thích Ca tiên đoán như thần, Phật bảo rằng đến ngày này nhà vua sẽ xây tháp Phật ở thánh địa này để chứa phần lớn xá lợi của Phật, nay đại vương đã đến nơi này thật đúng lúc là người có đạo đức, danh hiệu giống như tiên đoán của Phật, nên tôi đến đây để nhắc ngài. Nhà vua nghe rất bằng lòng, biết rằng danh hiệu của mình đã được tiên Phật chuẩn bị trước từ xưa. Nên sinh lòng tôn kính Phật và tin theo Phật pháp”[10]

Cũng giống như vua A Dục vậy, “những quyển sách, quyển kinh được biên tập sau thời vua Kanishka thì có mấy đứa trẻ đang chơi, đức Phật cùng A Nan đã từng tới thọ ký cho đứa bé này sau này sẽ làm vua. Câu chuyện này được ghi ở miến tre ở Đôn Hoàn”[11].

  1. 3.   Sự nghiệp vua Kanishka đối với Phật giáo.

Sau khi lo xong quốc sự, ông về già mới quy y theo Phật giáo và ông cũng là người mở thông bộ giữa hai nước Ấn Độ và Trung Quốc. “Cho xây dựng ngôi Phật tháp bằng đá chung quanh nền ngôi tháp nhỏ. Muốn làm một thiện cử xây tháp đá che chở tháp nhỏ, khi tháp đá cao ba thước thì tháp nhỏ cao thêm ba thước lại cao thêm ba thước, cứ thế cao lên mãi, cho đến hơn bốn trăm thước, chu vi chân tháp có đến một dặm rưỡi, nền tháp có năm bậc cấp, cao tổng cộng một trăm rưỡi thước, mới che trùm tháp nhỏ nhà vua mừng cho xây thêm bên trong tháp đá 25 tầng chậu đồng rồi thu gom xá lợi Phật cất giữ. Khi công trình gần hoàn thành thì góc Đông Nam tự nhiên sụp đổ, vua buồn tính thu gom sạch ngôi tháp nhỏ thì tự dưng bật tháp cấp hai của tòa tháp đó xuất hiện nữa phần tháp nhỏ bị sụp đổ, ngôi tháp nhỏ nguyên vẹn như cũ, nhà vua than rằng: ôi! lòng người tin tưởng thì dễ mà việc linh dị của thần linh thật khó ngăn trở ’’[12].

“Nơi mặt bệ đá phía Nam ở phía Đông tháp có tòa tháp nhỏ, một tòa cao ba thước, một tòa cao năn thước, có hình trạng như ngôi tháp lớn, lại có hai tượng Phật, một cao bốn thước, một cao sáu thước, thể hiện Phật ngồi kiết già dưới cây bồ đề, khi ánh nắng chiếu vào thì ánh vàng chiếu diệu, nơi bóng Phật in trên mặt đá trở nên xanh biếc, bệ tháp phía Nam có một hình tượng Phật nơi vách đá cao một trượng sáu, từ ngực trở lên hiện hai thân người, từ ngực trở xuống hợp thành nhất thể”[13].

Ông xây tháp có đường kính 87m cao 200m có 5 tầng, xung quanh có vàng bạc ngọc đá quý phía Nam có tượng Phật, trong tháp này có bình bằng đồng chứa xá lợi Phật. Ở trên bình có đức Phật ngồi ở giũa hai bên có hai ông thần Indra và Brahra đứng hầu, mặc của bình có hình vua Kanishka và các vị thần khác. Ông cho rổ chức đúc tiền có hình tượng Phật và tượng Phật Di Lặc cầm chiếc bình. Ông ủng hộ hai trường phái nghệ thật Phật giáo tại Ấn Độ. Gandhara và Phathura hình thành dưới triều đại vua này.

Thời này có rất nhiều tượng Phật và có hào quan ở sau. Như vậy tên tuổi của vua Kanishka được thấy trong các sách sử ghi chép của Phật giáo và được truyền đến Tây Tạng và Mông Cổ. “Năm1908-1909 bác sĩ Tư Ban Nội (Dr.Spooner) khai quật kéo dài khoản 100 năm đầu thế kỷ XX tìm thấy một hòm xá lợi Phật tại tây bắc Ấn Độ, trên nắp hòm có khắc tên vua Kanishka. Điều đó chứng minh ông là vị vua có thực trong lịch sử Ấn Độ cổ đại, mặt ngoài hòm xá lợi có khắc tự dạng nạp thọ thuyết nhất hữu bộ”[14]. Ông xây Tịnh Xá mang tên ông, Tịnh Xá này rất lớn. Khu vựt Tây Ấn thuộc vùng Kashmir ông cho dựng các tự viện, tăng xá, học viện, phòng, giảng đường…..ông ủng hộ nhất thiết hữu bộ nhiều nhất. Nhờ công trình hộ pháp của vua như vậy mà lịch sử Ấn Độ mệnh danh là vua Asoka đại đế thứ hai của Phật giáo.

  1. 4.      Nguyên nhân dẫn đến kết tập kinh điển lần thứ tư.

Trong lúc Phật giáo bắt đầu có sự phân hóa để đáp ứng việc phát triển nên không tránh khỏi những bất đồng trong nội bộ về một số kinh luận. Kết tập kinh điển lần thư tư này thì có nhiều thuyết ghi chép khác nhau nên cũng không chính xát cho lắm, vì vậy ở đây chỉ nêu lên ba nguyên nhân dẫn đến cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư này.

  1. a.      Nguyên nhân thứ nhất:

Nhân việc vua lấy đạo hỏi người, mỗi người giải đáp khác nhau, vua bèn đem việc ấy hỏi Hiếp Tôn giả. Tôn giả đáp: “Sau khi Như Lai diệt độ, qua nhiều năm tháng, chúng đệ tử Phật chấp theo Bộ phái mình, khiến lời dạy đức Phật được giải thích theo sự kiến văn khác nhau của mỗi Bộ, kết quả dẫn đến mâu thuẫn nhau”[15]. Nghe xong, nhà vua vô cùng xót xa, ông liền phát tâm và truyền lệnh triệu tập chư vị A La Hán đến dự cuộc kết tập.

  1. b.       Truyện Bà tẩu Bàn Đậu pháp sư chép:

Sau Phật nhập diệt năm trăm năm, “có ngài La Hán Ca Chiên Diên Tử xuất gia với Bồ tát Bà Ða, ngài cùng năm trăm vị La Hán và năm trăm vị Bồ Tát cùng nhau tuyển tập bộ A Tỳ Ðạt Ma cho Bộ phái Tát Bà Ða”[16].

  1. c.      Vấn đề này được truyền tại Tây Tạng:

“Tại nước Ca Thấp Di La có vua Kanishka cúng dường tịnh xá Nhĩ Lâm, dùng nơi này để triệu tập năm trăm vị La Hán, năm trăm vị Bồ Tát, và năm trăm học giả tại gia, thỉnh cầu họ kết tập lời Phật”[17]. Từ đó về sau những thuyết của mười tám Bộ được chứng nhận đúng là lời Phật dạy. Lại cho ghi chép luật thành văn tự, những kinh, luận nào trước đây chưa được viết thành văn, thì nay cũng được viết đầy đủ.

Trong ba thuyết vừa nêu, thì Ðại Ðường Tây Vực Ký chỉ lấy ngài Thế Hữu xưng là Bồ Tát. “Rồi có năm trăm vị thánh A Lan Hán cùng nhau kết tập 10 vạn bài kệ “ô ba đệ thước” về sau chọn 10 vạn bài kệ A Tỳ Đàm Tạng, tổng cộng 30 vạn bài kệ với 960 vạn chữ giải thích trọn vẹn tam tạng lưu lại cho đời sau. Vua dùng đồng đỏ giát thành những phiến mỏng rồi khắc toàn bộ luận văn tam tạng này, cất vào hộp đá đựng tháp để bảo tồn, ra lệnh cho Dược Xoa hộ quốc trực tiêp canh giữ không cho tín đồ ngoại đạo trộm lấy, người muốn nghiên cứu thì cho vào, vua chờ ngày kết tập xong và đem quân trở về thủ đô, đứng ngoài cửa tây đô thành hướng về phía Đông làm lễ tạ ơn rồi mở hội thí xả toàn bộ cho tăng đồ trong nước”[18]. Trong khi Thế Thân truyện lại ghi có năm trăm vị Bồ Tát và Tây Tạng thì gia thêm năm trăm vị học giả tại gia.

Như vậy, “có thể hình dung lần kết tập này thông hàm tất cả những điều Phật dạy. Thực ra, lần kết tập thứ tư này là của Nhất Thiết Hữu Bộ, vì trong ba thuyết trên chỉ có thuyết của Ðại Ðường Tây Vực Ký là đủ độ khả tín. Thành quả của lần kết tập này là sự xuất hiện của luận Ðại Tỳ Bà Sa với hai trăm quyển, và bộ luận này hiện vẫn còn trong tạng luận, trong đó còn lưu giữ tự dạng thời vua Kanishka. Nếu xét về nội dung, bộ luận Ðại Tỳ Bà Sa đã qua nhiều tăng bổ của hậu nhân”[19]. Cuộc kết tập lần lượt tiến hành các việc như: tạo luận, giải thích kinh, luật mỗi thứ có đến mười vạn bài tụng. Đây là theo quan điểm của nhất thiết hữu bộ, Nam truyền không chấp nhận bộ phái này. Bắc truyền thì chấp nhận.

  1. 5.      Trách nhiệm của một Phật tử đối với đạo pháp.

Như trên đã trình bày, sau khi quay về với chánh pháp, quy y Tam bảo, thọ trì Ưu-bà-tắc giới, tu tập giới định tuệ, nhà vua đồng thời là một Phật tử rất nhiệt thành, dốc hết tâm lực để hoằng dương chánh pháp, đó là công việc lớn lao nhất mà ông đã nhận lãnh và hoàn thành trách nhiệm một cách tốt đẹp, đồng thời kết tập kinh điển, truyền bá giáo pháp phổ cập nhân gian. Đặc biệt là phái người ra nước ngoài để truyền bá Phật pháp, làm cho ngôi nhà Phật pháp được lan rộng ra cho đến ngày hôm nay mang tính toàn cầu. Sáng kiến truyền bá Phật pháp này rất quả cảm và trí tuệ.

  1. C.    Kết luận.

Như chúng ta đã biết, có nhiều lý do làm cho vua Kanishka quay về đường chánh, biết quy y Tam bảo, nên ông đã áp dụng triệt để giáo lý Phật đà vào việc xây dựng một đất nước được thành công trên mọi lãnh vực như chính trị, xã hội, giáo dục, văn hóa. Ông đã lấy lòng nhân từ làm chính yếu và việc thưởng phạt được phân minh, khuyến khích giúp đỡ dân chúng, dùng chánh nghĩa để loại bỏ ác nghiệp. Việc đối đãi vua tôi và thần dân không phân biệt giai cấp hay chủng tộc, tín ngưỡng. Cho nên vua Kanishka đã kiến tạo một xã hội yên bình an lạc và đem lại lợi ích rất thiết thực cho nhân dân như chiến dịch trồng cây, cung cấp nước sạch, xây dựng và bảo vệ môi sinh, sự sống của hữu tình. Chủ trương tôn trọng tín ngưỡng dân gian, khoan dung, bất bạo động vẫn mãi mãi là những nét đẹp của văn hóa loài người. Thành công xuất sắc nhất là việc truyền bá mạng mạch Phật pháp bằng cách kết tập kinh điển lần thứ tư. Mặc dù đã trải qua trong suốt 25 thế kỷ, những thăng trầm biến đổi của thời gian không làm phai mờ những đóng góp của cuộc đời Vua Kanishka cho sự nghiệp truyền bá giáo lý nhà Phật. Nó vẫn còn sáng mãi ở trần gian. Đó là thành quả lớn nhất của vua Kanishka đã đóng góp cho cuộc đời lẫn đạo pháp mà trang sử không bao giờ lãng quên được. Đúng như lời người xưa đã tán thán.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn Độ, NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2007.
  2. Will Durant, Lịch sử triết học văn minh Ấn Độ, NXB Văn Hóa,  1996.
  3. Pháp sư Thánh Nghiêm, T Tâm Trí(dịch), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB Phương Đông, 2008.
  4. Tam Tạng Trần Huyền Trang, Tiến Sỉ Lê Sơn(biên dịch), Đại Đường Tây Vứt Ký, NXB Phương Đông, 2007.
  5. Thầy Chơn Minh , bài giảng khóa IX, lớp đại cương.
  6. Trần Trúc Lâm, Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ, NXB Phương Đông, 2007.
  7. HT.T Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn Độ, NXB Tôn Giáo, 2011.

[1] Trần Trúc lâm,Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ, nxb Phương Đông, tr 99-100.

[2] Pháp sư Thánh Nghiêm, T  Tâm Trí(dịch), lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nxb Phương Đông, 2008, tr 260.

[3] T Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn Độ, nxb Tôn Giáo, 2011, tr134.

[4] Tam Tạng Trần Huyền Trang, Tiến Sĩ Lê Sơn(biên dịch), Đại Đường Tây Vứt Ký, nxb Phương Đông, 2007, tr 107.

[5] Bài giảng của TT Chơn Minh khóa IX, đại cương.

[6] Sđd. tr108.

[7] Bài giảng của TT Chơn Minh khóa IX, đại cương.

[8] Trần Trúc lâm,Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn Độ, nxb Phương Đông, 2007, tr 131.

[9] Thầy Chơn Minh ,bài giảng khóa IX, lớp đại cương.

[10] Tam Tạng Trần Huyền Trang, Tiến Sỉ Lê Sơn(biên dịch), Đại Đường Tây Vứt Ký,nxb Phương Đông, 2007, tr 181-182.

[11] Thầy Chơn Minh , bài giảng khóa IX, lớp đại cương.

[12] Tam Tạng Trần Huyền Trang, Tiến Sỉ Lê Sơn(biên dịch), Đại Đường Tây Vứt Ký,nxb Phương Đông, 2007, tr 182.

[13] Sđd,tr183.

[14] Pháp sư Thánh Nghiêm, T Tâm Trí (Việc dịch), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nxb Phương Đông, 2008, tr 265-266.

[15] Pháp sư Thánh Nghiêm, T Tâm Trí (Việc dịch), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nxb Phương Đông, 2008, tr 267.

[16] Sđd, tr  268.

[17] Sđd, tr  268.

[18] Tam Tạng Trần Huyền Trang, Tiến Sỉ Lê Sơn(biên dịch), Đại Đường Tây Vứt Ký,nxb Phương Đông, 2007, tr 251-252.

[19] Pháp sư Thánh Nghiêm, T Tâm Trí (Việc dịch), Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nxb Phương Đông, 2008, tr 267-268.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s