Phat giao hoa hao

Normal
0

false
false
false

EN-US
ZH-CN
X-NONE

 

DÀN BÀI

 

NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ HƯỚNG DẪN

 

A.   DẪN NHẬP

 

B.   NỘI DUNG

 

                              I.      Khái quát về PGHH

 

1.           Nguồn gốc

 

2.           Giáo chủ

 

                           II.      Tính dân tộc của Phật giáo Hòa Hảo

 

1.            Sấm Giảng thi văn     

 

2.            Cách thờ phụng 

 

3.           Trang phục

 

4.            Kiến trúc độc giảng đường  

 

5.           Tinh thần yêu nước                

 

6.            Công tác từ thiện- xã hội

 

7.           Nhận định của cá nhân.

 

C.   KẾT LUẬN

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. A.          DẪN NHẬP

Lịch sử Phật giáo Việt Nam là một giòng chảy liên tục và sinh động, từ  bao đời qua không ngừng tưới tẩm những đợt phù sa tươi mát lên mạch sống tâm linh của đất nước, dân tộc. Khi bước đường Nam tiến của người Việt dừng lại ở vùng châu thổ sông Cửu Long, biến mảnh đất này thành một vựa lúa phì nhiêu, thì đồng thời một bối cảnh văn hóa cá biệt cũng được hình thành, nảy nở và trên cao hết, như một biểu hiệu của nền văn minh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thiết tha của quần chúng.

Nếu như những thế hệ cha ông người Việt trước đây đã chọn Phật giáo như là một chỗ dựa tâm linh vững chắc thì nay những lưu dân của vùng đất mới dĩ nhiên không thể không hướng vọng về đạo Phật. Thế nhưng, trong một địa bàn xã hội mà thành phần nông dân chiếm đến 85% dân số, thiết nghĩ đời sống của người dân cần có sự phù hợp với đạo lý đời thường và nếp nghĩ giản đơn. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời chỉ là  một hệ quả, một đáp ứng tất nhiên của những khát vọng sâu kín này.

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội – văn hóa – đạo đức, thuộc đời sống tinh thần, tâm linh của con người. Tôn giáo xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của ý thức, tinh thần và sẽ tồn tại lâu dài với con người khi người ta còn có nhu cầu tâm lý được an ủi trong hư ảo, còn có những ảo tưởng, những ước mơ về một cuộc sống thần tiên ở thế giới bên kia…Nước Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Bên cạnh các tôn giáo ngoại nhập như: Phật giáo, Đạo giáo, Công giáo… còn có các tôn giáo nội sinh như: đạo Cao Đài, Hòa Hảo.

Đạo Hòa Hảo là một tôn giáo do Ngài Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939 tại An Giang. Chủ trương tu hành tại gia. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời trong điều kiện lịch sử – xã hội nước ta nói chung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng khá căng thẳng, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai sắp nổ ra, thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhiều người hoạt động cách mạng bị bắt vào tù. Một số tín đồ yêu nước của Đạo giáo cũng bị khủng bố….  Tuy mới ra đời nhưng Phật Giáo Hòa Hảo đã thu hút nhiều học giả, các nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ giáo viên, sinh viên, học sinh… quan tâm, tìm hiểu. Đáp ứng nhu cầu đó, chúng tôi tổ chức nghiên cứu về “Tính dân tộc trong Phật Giáo Hòa Hảo”. Ngày nay, bà con tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo sống phúc âm trong lòng dân tộc.

  1. B.              NỘI DUNG

I . Khái quát về Phật Giáo Hòa Hảo

1 . Nguồn gốc

Phật giáo Hòa Hảo ra đời gắn liền với những bối cảnh nhất định về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ lúc bấy giờ, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến trước cách mạng tháng tám 1945. Đời sống nhân dân đói khổ, lầm than đặc biệt là nông dân chịu hậu quả của chính sách khai thác thuộc địa và vơ vét thuế khá nặng nề, sự đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đối với các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ, đồng thời đó là sự sa sút mệt mỏi của các tôn giáo tín ngưỡng đương thời. Với bối cảnh của xã hội lúc bấy giờ cần có sự xuất hiện của một tôn giáo mới để bù đắp lại những mất mát về đời sống tinh thần của người dân. Chính vì vậy, Phật giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

2 . Giáo chủ

Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1920 (tức 25/11 Kỷ Mùi), là con của ông Huỳnh Công Bộ. Thuở nhỏ, ông được cha cho học hết bậc sơ Pháp-Việt tại một trường ở huyện. Ông có tiếng thông minh, có năng khiếu thơ văn, nhưng vì luôn đau ốm nên không thể tiếp tục học lên bậc cao hơn. Sau đó, ông đi lên núi Cấm tìm thầy chữa bệnh và tại đây ông đã tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật thầy Đoàn Minh Huyên (18071856) sáng lập. Ông tự nhận mình là bậc “sinh như tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc“. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những sấm giảng do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Đức Huỳnh Phú Sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo Chủ.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

II . Tính dân tộc trong Phật giáo Hòa Hảo

1 . Sấm giảng thi văn 

Đức Huỳnh giáo chủ có một khả năng viết dồi dào và thông thạo nghĩa lý khó tả. Từ năm 1939 đến nay, số kệ giảng được ấn bản và phát hành thành sách đạt số lượng lớn với trên 300 lần tái bản, và mỗi lần in tối thiểu 800.000 quyển. Những tác phẩm này viết theo thể văn vần. Và quyển sách này tập hợp tất cả các bài viết của Đức Huỳnh giáo chủ, có tựa là “Sấm giảng thi văn giáo lý”.

Sách chia làm hai phần, phần đầu gồm sáu quyển với các loại Sấm, Kệ, Văn,…có tựa là Phần thứ nhất : Sấm Giảng Giáo-Lý và phần sau gồm hàng trăm bài Thi, Ca, Văn, Chú,…có tựa là Phần thứ hai : Thi Văn Giáo-Lý. Quyển sách là kết qủa của công trình hoạt động tích cực và tận tụy của hội nghị Phật giáo Hoà Hảo trung ương được khai mạc ngày 17-5-1965, đã đính chính và bổ khuyết được nhiều điều quan trọng để ngày nay quyển Sấm Giảng Thi Văn toàn bộ được in ra tương đối hoàn thiện. Thể thơ thường được làm theo thể thơ lục bát của truyền thống dân tộc Việt Nam, ít biến đổi về vần điệu.

1 . 1. Khuyên người tu niệm

Tức quyển thứ nhất, văn lục bát, dài 912 câu, xuất bản lần đầu năm 1939. Ngài viết xong trước đệ nhị thế chiến, tại làng Hòa Hảo.

Nội dung: Đức Giáo Chủ muốn tỉnh thức quần chúng bằng cách tiên tri những cảnh lầm than khốn khổ mà nhân loại sẽ phải trải qua nhiều hình ảnh ẩn dụ của các con vật trong thời đại nhiễu nhương. Chẳng hạn, Ngài nói trước các năm từ lúc xảy ra cho đến khi chấm dứt đệ nhị thế chiến:

Mèo kêu bá tánh lao xao,

Đến chừng Rồng, Rắn máu đào chỉn ghê.

Con Ngựa lại đá con Dê,

Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.

Khỉ kia cũng bị xáo xào,

Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng”.

Sự thật đã diễn ra đúng như lời Huỳnh Giáo Chủ tiên đoán, từ khởi đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (Mèo kêu,1939) cho đến khi hai quả bom nguyên tử của Đồng Minh bỏ xuống nước Nhật để chấm dứt chiến cuộc trường chiến (Gà gáy, 1945), không sai một mảy.

Cuộc chiến tranh giết chóc đầy tàn nhẫn, gê tởm tuy ngưng từ năm Gà, nhưng theo Đức Giáo Chủ, nó sẽ còn tái diễn tại Việt Nam, và sẽ lan diễn khắp nơi :

Đời cùng còn chẳng mấy năm,

Khắp trong các nước thây nằm bằng non.

Cha thì chẳng thấy mặt con,

Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia !

Trong tác phẩm nầy, Đức Giáo Chủ cũng tường thuật việc Ngài hóa hiện ra đui cùi, buôn bán, khi già, lúc trẻ dạo khắp “lục châu” để thử lòng trăm họ, giác tỉnh mọi người, gọi họ theo về đường ngay, nẻo Đạo.

1 . 2. Kệ dân của người khùng

Tức quyển nhì, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939. Ngài viết tại làng Hòa Hảo ngày 12 tháng 9 năm Kỷ Mão.  Ở đây Đức Giáo Chủ vừa tiên tri tai nạn sắp xảy đến cho nhân dân, vừa khuyên mọi người làm lành lánh dữ, nên tu thân tích đức. Chẳng hạn như :

Đến chừng đó bốn phương có giặc,

Khắp hoàn cầu thiết thiết tha tha.

Vậy sớm mau kiếm chữ ma ha,

Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.

Trung với hiếu ta nên trau sửa,

Hiền với lương bổn đạo rèn lòng.

Thường nguyện cầu siêu độ Tổ tông,

Với bá tánh vạn dân vô sự”.

Ngài hoàn toàn không tán thành vấn đề  mê tín dị đoan, những âm thanh sắc tướng bề ngoài chỉn chu mà bên trong thì trống rỗng, dối tu lừa đời:

Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mõ,

Mà xưa nay có mấy ai thành !

Làm hiền lành hơn tụng hơ hà,

Hãy tưởng Phật hay hơn ó ré.

. . .

Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,

Chớ có đốt tốn tiền vô lý.

. . .

Tu vô vi chẳng cúng chè xôi,

Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót”.

1 . 3. Sấm giảng

Tức quyển ba, văn lục bát, dài 612 câu, xuất bản lần đầu năm 1939. Ngài cũng viết tại làng Hòa Hảo năm Kỷ mão.Trong quyển này, Đức Giáo Chủ dạy tu thân lập nguyện, rèn luyện đạo đức bản thân để sớm về cỏi Phật, Ngài viết :

Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,

Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.

Tu đền nợ thế cho rồi,

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen”.

Ngài khuyên răng những đối tượng thanh niên nam nữ phải biết giữ gìn bản thân, thuần phong mỹ tục để không bị văn minh vật chất hoặc dục vọng lôi cuốn đến bờ trụy lạc, Ngài kêu nói :

Nghiêm đường chịu lịnh cho an,

Loạn luân cang kỷ hổ mang tiếng đời

Hoặc là :

Nghe lời cha mẹ cân phân,

Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy”.

Và Ngài dứt khoác phản đối những hủ tục, đả kích những thói xa hoa, đàng điếm. Chẳng hạn :

Chết rồi cũng bớt cóc ken,

Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì !

Đàn nhu thầy lễ cũng kỳ,

Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng?

Hay là :

Văn minh sửa mặt sửa mày ,

Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.

Dọn xem hình vóc lả lơi,

Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa”.

Nếu chịu vẹn gìn theo lời chỉ giáo trong quyển Sấm Giảng nầy, thì nhân đạo của ta ắt có thể coi là hoàn bị lắm.

1 . 4. Giác mê tâm kệ

Tức quyển tư, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939). Đức Huỳnh Giáo Chủ viết tại Hòa Hảo ngày 20 tháng 10 năm Kỷ Mão. Trong bài này, Đức Giáo Chủ lại tiên đoán những tai họa mà chúng sanh sẽ phải trải qua trong thời Hạ ngươn mạt kiếp thật khiếp đãm, hải hùng.

Khổ với thảm ngày nay có mấy,

Sợ ngày sau dòm thấy bay hồn.

Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,

Cảnh sông máu núi xương tha thiết”.

Bên cạnh Ngài lại còn giảng rõ thêm những ý nghĩa sâu xa về tứ đổ tường, tứ khổ, ngũ uẩn, lục căn, lục trần, tứ diệu đế, bát chánh và bát nhẫn. Nói về hạnh nhẫn nhục và hỷ xả, Ngài thiết tha khuyên dạy những lời khuyến tu như sau:

Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

Đợi cho người hết giận ta khuyên.

Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,

Thì đâu có mang câu thù oán”.

1 . 5. Khuyến thiện

Tức cuốn thứ năm, đoạn đầu và đoạn chót viết bằng lối văn lục bát, đoạn giữa viết bằng lối thất ngôn, gồm 756 câu, xuất bản lần đầu năm 1942. Ngài viết tại nhà thương Chợ Quán năm 1941.
Ở bài này, Đức Giáo Chủ gợi nhớ về tiểu sử Đức Thích Ca và luận giảng về tám sự khổ trong cõi Ta bà, về pháp môn tịnh độ, về cách diệt ngũ trược, trừ thập ác và hành thập thiện.

1 . 6. Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo.

Quyển nầy viết bằng văn xuôi, hồi tháng 5 – 1945 tại Sài Gòn và xuất bản lần đầu cũng trong năm ấy. Tuy văn xuôi, nhưng quyển nầy lại là tác phẩm đặc sắc mang phong cách giản dị và lưu loát, âm hưởng du dương, nhịp nhàng. Ở bài này, Đức Huỳnh Giáo Chủ luận giải về tứ ân, tam nghiệp, thập ác, và bát chánh. Đồng thời  Ngài còn giảng dạy về cách thờ phượng, cúng lạy, nghi thức cử hành tang lễ, giá thú, cách đối xử với tôn giáo bạn, với các tăng sư, v.v. . .

Trên đây là sáu quyển tiêu biểu về sấm văn, ngoài ra Đức Giáo Chủ còn viết ra rất nhiều bài thi, bài văn đầy ý nghĩa giáo huấn để lại cho thế hệ hậu lai. Cách đây 13 năm, một nhóm tín đồ tại Thánh Địa Hòa Hảo đã gom góp và tập hợp thành một quyển với  nhan đề “Sưu tập thi văn giáo lý của Đức Huỳnh giáo chủ”.

Quyển này dày trên 300 trang, với nội dung phong phú bao gồm đủ thể loại thơ ca : thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn trường thiên, song thất lục bát, tứ ngôn và một số bài biến thể. Đặc biệt Đức Gíao Chủ viết với mục đích để dạy riêng một người hay đáp giảng với một người khác, hoặc viết để khuyến tu, hoặc để cảnh giác…. Tựu trung, tất cả đều thể hiện tính dân tộc, đều ẩn chứa những dụng ý tu tập, hành thiện, lánh ác bằng những giáo nghĩa thâm uyên cho con người Việt Nam, mà cho dẫu không phải người học đạo cũng đều hưởng được lợi ích cho đức hạnh bản thân mỗi khi đọc đến.

2 . Cách thờ phụng

Cách thờ phượng đơn giản chủ yếu tạo lòng tin tưởng để trở lại tâm hồn hơn là sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước, chúng ta thờ trần điều từ di tích của Đức Phật Thầy Tây An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tôn phái với chúng ta, làm sai pháp, sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu đà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu đà để biểu hiện cho sự thoát tục của mình, màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên tượng trưng cho sự hòa hợp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy, chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.

Ngoài sự thờ Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích.”Bàn thờ Ông Bà cúng món chi cũng được.

2.1. Bàn Thông Thiên:

Bàn này dựng trước sân nhà, hoặc giữa mái nhà cũng được. Theo ý Đức Thầy, nếu trong nhà chật hẹp, chỉ một bàn Thông Thiên cũng được.

2.2. Bàn thờ Cửu huyền thất tổ :

Bàn nầy đặt ngay giữa nhà, thấp hơn ngôi Tam Bảo, hoặc dưới ngôi Tam Bảo, nhà nhỏ thì làm nhị cấp.Các vật dâng cúng: Phật Trời không hề dùng vật thực thế gian, chỉ chứng tấm lòng thành mà thôi:

Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.

Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,

Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ”.

Cho nên Đức Giáo Chủ dạy: bàn Phật và bàn Thông Thiên chỉ được cúng 3 món tiêu biểu mà thôi:

Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch

Bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết.

Còn nhang dùng đặng bán mùi uế trược.

Ngoài ra, không nên cúng một món gì khác cả.

Còn bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ cúng món chi cũng đặng”.

Nên thờ hoặc không nên thờ những ai? Người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chỉ nên thờ: “Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những vị anh hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích”. Do truyền thống đó, Phật Giáo Hòa Hảo đã hình thành trong lòng dân tộc và cũng mang màu sắc dân tộc. Tất nhiên là lời giáo huấn của Đức Giáo Chủ cũng dung thông cả Tam giáo để khế hợp với tinh thần dân tộc. Như Ngài đã cho biết:

Trong Tam Giáo ân cần mở đạo,

Trường ngoại bang phục đáo như xưa”.

Và những câu:

Phật, Thánh, Tiên Đông Độ lướt sang,

Miền Nam địa phân chia đẳng cấp”.

Hoặc là:

Phật, Tiên, Thánh lòng nhơn hà hải,

Những ước ao thế giới hòa bình”.

Bàn thờ ông bà hay cửu huyền thất tổ, tượng trưng cho Thánh Đạo. Bàn thờ nầy do truyền thống của Tổ Tiên ta từ thời Hùng Vương lập quốc tới giờ. Trong đây là tôn thờ Tổ Quốc và Ông bà cha mẹ từ vô lượng kiếp. Theo Tôn chỉ của Phật Giáo Hòa Hảo thì hai điều Trung và Hiếu là then chốt:

Phụ mẫu thâm ân vô lượng kiếp,

Quân thần nghĩa trọng hữu thiên niên”.

Hoặc là:

Hiếu trung lòng chớ vội quên,

Sống lo trọn Đạo thác lên Tiên đài”.

Là một nền đạo xuất phát trong lòng dân tộc, người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo với tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” không thể thiếu bàn thờ ông bà được. Cho nên bàn thờ “Cửu Huyền Thất Tổ có ý nghĩa tượng trưng cho Thánh Đạo.

Thờ phượng cũng gọi là phượng thờ hay phụng thờ. Có nghĩa thờ kính và vâng chịu làm theo. Đức Thầy bảo:

Hiếu trung truyện tích sờ sờ,

Người đời phải biết phượng thờ mẹ cha”.

2.3. Mục tang lễ

2.3.1. Tục để tang

Về tang lễ, Đức Thầy dạy: Nếu trong nhà có người từ trần thì tục để tang được giữ theo cổ lệ. Tức là phong tục từ xưa do Tổ tiên của đất nước ta truyền lại, như : may y phục tang, khăn tang (vải trắng), lập bàn thờ tang, tổ chức lễ an táng; ba ngày cũng cúng khai mộ, cầu siêu 7 thất, làm tuần 100 ngày (bá nhựt), làm tuần giáp năm, làm tuần mãn khóa (xả tang sau 24 tháng) và hàng năm cúng giỗ (kỷ niệm). (Làm tuần 7 thất là tục lệ từ xưa nhưng xét đây là tục lệ chân chánh nên chúng ta còn giữ).

2.3.2. Nhận định về sự chết và hiếu sự

Xét rằng con người có sanh tất có tử, có hình thành tất có hoại diệt, nên khi có người chết hãy đem chôn xác thể, đừng để hôi thúi mất vệ sinh chung.

Còn sự báo hiếu là mình lo nuôi dưỡng ông bà cha mẹ lúc sanh tiền và lo tu hành, tác phước thiện duyên, để hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ đặng siêu thoát. Chẳng nên liệm vàng bạc theo, hoặc sát sanh hại vật mà cúng tế. Đức Thầy hằng cảnh giác:

Của tiền chớ có bỏ theo,

Chết rồi tế lễ bò heo làm gì ?

Nếu ai biết chữ tu trì,

Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.

Không làm để ở lung lăng

Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì”.

3 . Trang phục

Trang phục của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thường mang theo theo kiểu truyền thống áo dài nâu, hoặc áo Bà ba nâu, vì là tu tại gia nên tóc bối đó cũng là nét đặc trưng của Phật Giáo Hòa Hảo.

4 . Kiến trúc độc giảng đường  

Về kiến trúc, độc gảng đường trên tròn dưới vuông, tượng trưng cho trời tròn đất vuông, cũng có ý nghĩa là tượng trưng cho âm dương.

5 . Tinh thần yêu nước

Thông qua bài giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ như sau :

Đặc biệt trong khi thuyết giảng Huỳnh Phú Sổ xen và tuyên truyền ca ngợi truyền thống chống ngoại xâm của các anh hùng dân tộc … Trong đó có gương chiến đấu chống thực dân Pháp của các đệ tử của Phật thầy Tây An như Quảng Thành, Chài Lịch, Ngô Lợi...”[1]

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo phát huy tinh thần dân tộc được thể hiện như sau: “Tín đồ tham gia tích cực vào các cuộc đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thi hành hiệp định Giơ-nê-vơ, đòi các quyền về dân sinh dân chủ, đấu tranh chống bắt lính chống giết người vô tội. Có những cuộc đấu tranh thu hút hàng ngàn, hàng chục ngàn tín đồ tham gia như cuộc đấu tranh chống giết người vô cớ ở Tân Châu (tháng 7/1965), cuộc đấu tranh chống chiến dịch Phượng Hoàng ở Long Xuyên (tháng 11/1971), …[2]. Đặc biệt Huỳnh Phú Sổ còn làm thơ thể hiện tình cảm của mình đối với quê hương đất nước, con người như sau:

TÌNH YÊU
Ta có tình yêu rất đượm nồng.
Yêu đời yêu lẫn cả non sông.
Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ.
Không thể yêu riêng khách má hồng
Nếu khách má hồng muốn được yêu.
Thì trong tâm trí hãy xoay chiều.
Hướng về phụng sự cho nhơn loại.
Sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
Ta đã đa mang một khối tình.
Dường như thể hải với sơn minh.
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả.
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.
Miền Đông năm Bính Tuất
(1946)

Về vấn đề đường hướng chủ trương hướng đạo với tinh thần yêu nước được thể hiện như sau: “Bản hiến chương 2004 đã xác định rõ đường hướng hoạt động của Phật Giáo Hòa Hảo là vì đạo pháp vì dân tộc, thực hiện tôn chỉ học Phật, tu nhân, tại gia cư sĩ, giáo huấn tín đồ về tứ ân (ân tổ tiên cha me, ân đất nước, ân Tam Bảo, ân đồng bào và nhân loại), tám điều răn cấm và giáo lý chơn truyền của Đức Huỳnh Giáo Chủ, cứu giúp người nguy khó, tương trợ trong quan hôn, tang, tế và thực hiện hữu ích cho xã hội, cho nhơn sanh...”[3].

Đức Huỳnh Giáo Chủ, sau khi khai sáng Phật Giáo Hoà Hảo, đã chủ trương vừa thuyết pháp truyền giáo vừa lấy đức y làm phương tiện độ đời, vào tháng 5 năm kỷ mão (1939). Mặc dù không nghiên cứu y học chuyên sâu, nhưng ông đã chữa lành nhiều ăn bệnh hiểm nghèo như bệnh tà, bệnh suyễn, bệnh dạ dày,….cho nên đã thu hút được sự tín cậy của đông đảo quần chúng, đặc biệt là ông còn làm thơ khuyến nông. Từ phương tiện chữa bệnh, ông đã đem giáo nghĩa thâm sâu của nhà Phật thuyết giảng cho mọi  người ngày đêm không biết mệt mỏi. Theo ước tính đã có  hàng ngàn buổi khuyến thuyết với nhiều đề tài phong phú khác nhau.

Nhờ vậy, ông đã qui phục được rất nhiều người lìa mê theo ngộ, bỏ tà qui chánh. Không dừng ở đó, một trong những công đức lớn lao khác của Đức Huỳnh Giáo Chủ là việc viết ra kệ giảng để giáo dục những thế hệ ngày sau. Từ đây, một xu thế Phật giáo hoàn toàn phục vụ cho những lý tưởng cao đẹp “ sống đời đẹp đạo” của người Phật tử tại gia được truyền bá sâu rộng và xuyên suốt theo dòng lịch sử nước nhà. Một kết qủa khó tin là phần đông những người dân Việt Nam, đặc biệt người dân Nam Bộ có được thiện duyên là tìm cho mình một chỗ dựa tâm linh, một cội nguồn đạo đức chuẩn mực.

6 . Công tác từ thiện xã hội

Sau giải phóng đất nước, cơ đồ Phật Giáo Hòa Hảo bị tan tác, mọi chương trình đạo sự bị nghiêm cấm, người tín đồ chỉ còn tìm vui bên các công tác từ thiện xã hội, như: Tu kiều bồi lộ, cất nhà tình thương, cứu trợ nạn nhân cơ nhỡ, cấp cơm cháo nước miễn phí tại những bệnh viện lớn Sài Gòn và khắp các huyện tỉnh phía nam, hỗ trợ bệnh nhân nghèo, phẩu thuật mắt miễn phí. Mọi việc rầm rộ nổi lên và thành công rực rỡ như một cao trào. Trong sự nhìn chung của cộng đồng xã hội thì nó như một hiện tượng lịch sử cần thiết cho hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ.

Phần nhiều những công tác từ thiện như đã nói trên đều có sự góp mặt của đạo tràng Thiện Thọ. Đặc biệt, có những hoạt động chưa đầy một năm (năm2009), với sự góp sức thầm lặng của các nhà hảo tâm, đạo tràng đã hoàn thành 62 căn nhà tình thương cho các đối tượng nghèo trong và ngoài tỉnh. Một trong những đặc điểm vừa mang đạo lý, vừa mang tính dân tộc của người Việt Nam: “ Lá lành đùm lá rách’’ và “ một nắm khi đói bằng gói khi no’’, tín đồ chủ trương hoạt động các công tác từ thiện trên tinh thần giáo huấn của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi

Lúc hạn nắng từ bi giúp nón’’

Hoặc là:

Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm

Đến loạn ly khổ hạnh khỏi lâm’’.

Để chào mừng và tôn vinh Đại Lễ Đản Sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ (25/11/ Âm lịch hằng năm), các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đã phát động và thực hiện chương trình cất nhà tình thương và nhiều công tác từ thiện xã hội.

Các tôn giáo nhìn chung, đều hướng tín đồ vào hoạt động xã hội, từ thiện nhân đạo (năm 2010, giá trị hoạt động từ thiện xã hội qui thành tiền là 50 tỷ đồng; năm 2011 là 73 tỷ đồng), trong đó hoạt động xã hội từ thiện nhân đạo của Phật giáo Hòa Hảo trở thành đặc trưng. Nhiều thương hiệu của Phật giáo Hòa Hảo ở miền Tây Nam bộ, như: xây dựng cầu, đường, tổ chức xe đưa, rước bệnh nhân nghèo, hỗ trợ đồng bào bị thiên tai bão lụt, thực hiện phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phật giáo Hòa Hảo cũng đã tham gia hưởng ứng các phong trào hoạt động cách mạng do Mặt trận tổ quốc các cấp phát động, nhằm tạo uy tín, ảnh hưởng của đạo.

Nổi bật là hoạt động từ thiện xã hội như xây dựng cầu, đường, cấp cơm, cháo, nước sôi miễn phí tại các bệnh viện, làm nhà tình thương, phòng thuốc nam, trại hòm từ thiện, chăm lo giúp đỡ người nghèo neo đơn… Những hoạt động này đã thể hiện tinh thần nhập thế, hướng thiện, nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của một tôn giáo nội sinh, gắn bó đồng hành cùng dân tộc.

Những kết quả tích cực trong các hoạt động “đạo – đời” của đồng bào Phật Giáo Hòa Hảo đã chứng minh sự đúng đắn của chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm tạo điều kiện của Đảng, chính quyền các cấp ở TP Cần Thơ đối với các hoạt động của Giáo hội và tín đồ.

Hoạt động xã hội từ thiện là sinh hoạt cộng đồng có ý nghĩa sâu sắc đối với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Với nguyên tắc: “Giúp đời đừng đợi trả ơn. Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng”, các tín đồ đã chung tay góp sức thực hiện các công việc thiết thực và cụ thể như: xây cầu nông thôn, làm đường, cất nhà tình thương, nhà tình nghĩa, cứu trợ lũ lụt, thành lập tổ cơm cháo tình thương phục vụ các bệnh viện, hỗ trợ bệnh nhân nghèo đi phẫu thuật mắt, chế biến thảo dược và khám chữa bệnh miễn phí, sưu tầm dược liệu cấp cho các phòng thuốc từ thiện, hỗ trợ thực phẩm tươi cho bếp ăn tại An Hòa Tự phục vụ những ngày đại lễ và đồng đạo về chùa lễ Phật… Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo có thể nghèo vật chất nhưng không nghèo tấm lòng. Dù gia cảnh có khó khăn, nhưng họ lúc nào cũng mở rộng vòng tay, sẵn sàng sẻ chia với những mảnh đời khốn khổ, khó khăn. Tinh thần nhường cơm sẻ áo ấy thật đáng trân trọng, nó là một phần nhỏ của việc báo đáp Tứ ân theo lời dặn dò của đức Thầy (cách gọi thân thương của tín đồ đối với vị Giáo chủ). Là những cư sĩ tại gia, không xa lánh thế tục mà luôn biết dung hòa giữa đạo và đời, tín đồ luôn có một niềm tin rất mãnh liệt vào cuộc sống. Họ tìm đến Phật giáo Hòa Hảo không chỉ muốn tìm kiếm sự bình an cho tâm hồn mà còn mong muốn tìm kiếm sự bình an cho đồng bào, nhân loại.

Công tác xã hội từ thiện trong tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã có từ lâu, nhưng đến năm 1999 khi Ban Đại diện Phật Giáo Hòa Hảo chính thức được công nhận, có đủ tư cách pháp nhân hoạt động, công tác này mới thực sự phát triển mạnh mẽ và lan rộng, thu hút đông đảo tín đồ tham gia, mở thêm một nguồn tham gia từ thiện vì cộng đồng. Ngoài phục vụ lợi ích trực tiếp cho bà con đồng đạo, những công trình, việc làm của các tín đồ Hòa Hảo còn góp một phần không nhỏ trong việc chăm lo đời sống, phát triển kinh tế xã hội các địa phương.

Từ sự vận động của Ban Trị sự các cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh, hàng năm, bà con tín đồ nói riêng và nhân dân các địa phương nói chung đã đóng góp hàng chục tỷ đồng cho các hoạt động xây dựng, sửa chữa cầu đường giao thông, hỗ trợ tiền và hiện vật thường xuyên, đột xuất cho hộ nghèo, sưu tầm cấp thuốc nam miễn phí, cấp học bổng cho học sinh nghèo, cấp xe lăn cho người tàn tật…

Từ 18/5/2010 – 18/5/2011 Âm lịch, tổng nguồn đóng góp của tín đồ trong cả nước là 115 tỷ đồng. Qua đó, đã cất mới hơn 1.900 căn nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa, xây sửa 95 cây cầu nông thôn, nâng cấp 320 km lộ giao thông, hỗ trợ khó khăn cho hơn 15.800 hộ nghèo, chương trình nắm gạo tình thương nhận hỗ trợ trên 640 tấn gạo, khám và cấp hơn 2 triệu thang thuốc nam miễn phí cho bệnh nhân nghèo…

Nhiều năm qua, các tín đồ đã đóng góp rất tích cực trong công tác từ thiện, chăm lo cho hộ nghèo, hộ khó khăn cả trong và ngoài tỉnh. Với ý nguyện san sẻ khó khăn với người nghèo bằng những nghĩa cử chân tình, thiết thực, không ít cá nhân đã trở thành những Mạnh Thường Quân gắn bó lâu dài với hoạt động này, xem đó là một cách trả ơn đời, trả ơn xã hội. Có thể kể đến những điển hình như bà Lê Thị Khánh ở Thành Phố Hồ Chí Minh, mỗi năm góp 1 tấn gạo, anh Nguyễn Hoàng Tuấn huyện Châu Phú hỗ trợ mỗi năm hỗ trợ 4 căn nhà Tình thương, anh Phạm Văn Thọ (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) đóng góp từ 100 triệu – 150 triệu đồng/năm và còn vận động 194 người cùng anh tham gia đội thi công xây cầu đường, doanh nghiệp tư nhân Năm Cường (Châu Phú, An Giang) hỗ trợ thường xuyên máy móc và vật liệu cho đội thi công xây cầu kiên cố theo mô hình mới… Gần đây, những cây cầu liên ấp, liên xã xóa dần khoảng cách ngăn sông, cách chợ giữa các địa phương được mọc lên liên tiếp, vững chãi đã mang lại niềm phấn khởi trong đông đảo người dân. Đặc biệt là mô hình cầu mới kiên cố do nhân dân đóng góp kinh phí và ngày công, Ban Trị sự Phật Giáo Hòa Hảo các địa phương đứng ra làm chủ thi công đã và đang được nhân rộng một cách hiệu quả, góp phần xây dựng, phát triển nông thôn mới theo chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước.

Phát huy các mặt tích cực đã đạt được, Ban Trị sự Trung ương giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo chủ trương hướng tín đồ sống tiết kiệm, kể cả việc tổ chức Đại lễ để dành tiền của cho công tác xã hội từ thiện. Xã hội còn nhiều người  khuyết tật, neo đơn cơ nhỡ thì công cuộc từ thiện còn cần nhiều hướng hảo tâm trợ giúp, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo là một nguồn từ thiện mới, thật đáng trân trọng.

7. Nhận định của cá nhân

Như vậy, trong đa số các tôn giáo có mặt tại Việt Nam chúng ta thường là được truyền từ nước ngoài vào. Nhưng đặc biệt Phật Giáo Hòa Hảo lại khác, là đạo của riêng người Việt, không bị ảnh hưởng các sắc thái đa văn hóa bên ngoài mà là một tôn giáo nội nhập. Chính những điều kiện văn hóa chính trị lúc bấy giờ đã tạo nên một tôn giáo mới. Một tôn giáo mang bản sắc văn hóa riêng của người Việt nói chung của con người đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng. Đó mới thật sự là cái của người Việt chúng ta thật thụ. Đó là nét văn hóa, là nền tảng của luân lý đạo đức.

Cho dù tôn giáo đó có tốt hay xấu chăng nữa, có đưa con người vượt thoát ra ngoài sinh tử để đến quả vị niết bàn hay không. Nhưng dấu sao đó cũng là một tôn giáo thuần túy, mang một vẻ đẹp của văn hóa tín ngưỡng tâm linh. Một tôn giáo không mơ hồ, một tôn giáo khế hợp với tín ngưỡng tâm linh của người Việt xưa và nay. Điều đó đã tạo nên một nét đẹp, một tôn giáo mang một sắc thái riêng biệt của tâm hồn dân tộc Việt Nam nói chung và con người chúng ta nói riêng.

 

 

  1. C.                KẾT LUẬN

Phẩm chất dân tộc là mức độ giá trị mà Phật giáo Hòa Hảo đã đạt đến, mà một trong những kết quả là sự gắn bó mật thiết, máu thịt, đi vào chiều sâu bản chất của  dân tộc Việt Nam. Đây là thế mạnh truyền thống của Phật giáo Hòa Hảo và là mục tiêu phát triển của Phật giáo Hòa Hảo trong hiện tại và tương lai. Phật giáo Hòa Hảo đã chung sống với người dân Việt Nam trong những bước khó khăn và phát triển của đất nước. Sợi dây liên lạc đã thắt chặt Phật Giáo Hòa Hảo với dân tộc Việt Nam thành một khối bất khả phân ly. Sự giao tiếp tư tưởng đạo Phật với Phật GIáo Hòa Hảo đã thấm nhuần tinh thần dân tộc. Xây dựng đạo pháp và dân tộc trong lòng dân tộc là chủ trương của Phật Giáo Hòa Hảo. Tính đồng hành giữa Phật giáo Hòa Hảo và dân tộc đã trở thành lối ứng xử đậm đà bản sắc dân tộc của đạo Phật.

Chúng ta nhận thấy được rằng chủ trương lấy tính dân tộc và đạo pháp của Phật Giáo Hòa Hảo là một chủ nghĩa nhập thế theo đúng nghĩa của từ này. Do đó, triết lý Phật Giáo Hòa Hảo là nhằm phục vụ con người, hướng con người đến mục đích an vui và hạnh phúc. Vì lời Phật dạy mang tính “thiết thực hiện tại”, giá trị đạo đức và xã hội của Phật Giáo Hòa Hảo là sự thành công cho chủ trương nhập thế của Phật giáo Hòa Hảo mang dấu ấn thời đại. Trong bối cảnh đồng hành với dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo đã và đang phụng sự cho dân tộc Việt Nam trong thời đại hôm nay và mai sau, nhằm góp phần mang lại tinh thần hòa bình, thịnh vượng và phát triển bền vững.

 

 

 

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo – 2005.

2. Sấm truyền của Phật Giáo Hòa Hảo.

3. Các tôn giáo lớn trên thế giới.

4. GS.TS. Trần Hồng Liên, tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giao Việt Nam, Nhà xuất bảnTổng hợp TP.HCM.

5. GS.TS. Trần Hồng Liên, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ – Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội.

 


[1] Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo Việt Nam, NXB Tôn giáo – 2005.

[2] Nguyễn Thanh Xuân, tr. 374.

[3] Điều I, chương I-Hiến chương Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.

 

 

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin-top:0in;
mso-para-margin-right:0in;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0in;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s