TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ: ĐỀ TÀI” CƠ SỞ VÀ BẢN CHẤT CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ”

DẪN NHẬP

 

Với cuộc sống quay cuồng bởi biết bao nhiêu đoanh vay hệ lụy, con người phải luôn luôn đối mặt với vô vàn vấn đề nảy sinh từ giao tiếp và đối đãi giữa người với người, con người với xã hội, với môi sinh v.v… Nếu con người không có biện pháp tiếp xúc hay chuyển hóa vấn đề từ phức tạp thành đơn giản cũng như chuyển tấu tâm lý theo chiều hướng tích cực hơn để sống tốt hơn. Nếu không biết chuyển hóa nhẹ nhàng và không rõ các gốc rễ, căn nguyên của các hoạt động tâm linh đang xảy ra bên trong mình và nhìn nhận khác quan và chính xác yếu tố tâm lý của người khác thì đó chính là sự nguy hiểm lớn cho tự thân. Để ngăn ngừa các nẻo đường đau khổ cũng như những căn bệnh triền mien về tâm lý làm não loạn con nghười, làm cho nhân sinh không một ngày an lạc thì việc nghiên cứu về tâm lý con người là rất cần thiết là quan trọng, hữu ích cho mọi người. Và rồi,việc nghiên cứu về  các khía cạnh của tâm sinh lý ngày càng được các học giả khắp nơi trên thế giới quan tâm và được xem như là một môn học không thể thiếu. Cho nên các đề tài nghiên cứu về tâm lý học, tâm thức…có một vai trò quan trọng và được số đông quần chúng hưởng ứng. Vì vậy, nghiên cứu về đề tài này cũng chính là nghiên cứu để tìm ra phương hướng, biện pháp giáo dục đạo đức, cải thiện xã hội ngày càng văn minh hơn trong thời đại hội nhập hiện nay. Đó cũng là lý do yếu điểm mà chúng tôi chọn đề tài “Cở sở và bản chất của các hiện tượng tâm lý”.

Đề tài mà nghiên cứu sinh chọn để nghiên cứu với phương pháp chất lượng (Qualitative Method) giúp chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu về tâm lý của con người trong xã hội qua thu thập dữ liệu và tìm hiểu các cá thể, sự kiện tác động tâm lý để rút ra nhiều khía cạnh tâm lý phong phú khác nhau, kết hợp phương pháp phân tích (Anlytical Methold). Bởi vì, chúng tôi xét thấy vấn đề tâm lý có ảnh hưởng quan trọng đến việc phát triển xã hội, đất nước theo khuynh hướng đạo đức con người. Cho nên áp dụng phương pháp này, chúng tôi giả định một “mẫu lý tưởng xã hội” để chúng ta chuyển hóa tâm lý con người hướng họ đến với mẫu hình ấy ví dụ như mẫu hình không có các tệ nạn xã hội, mẫu hình đạo đức hoàn thiện trong xã hội….

 

NỌI DUNG

 

CHƯƠNG 1    KHÁI QUÁT BỘ MÔN TÂM LÝ

 

1.1  Khái niệm về tâm lý:

Khái niệm tâm lý rất rộng và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tùy thuộc vào tình huống, hoàn cảnh cụ thể hay cách tiếp cận, chúng ta có thể đưa ra nhiều quan điểm về tâm lý. Người ta nói với nhau rằng “anh (chị) ấy tâm lý lắm”. Trong trường hợp này, tâm lý có nghĩa là anh (chị) ấy hiểu được người khác và có thể làm hài lòng người khác. Theo cách tiếp cận cấu trúc, tâm lý là một trong ba mặt cấu trúc của con người: mặt sinh học, mặt xã hội và mặt tâm lý. Mặt sinh học bao gồm những gì thuộc về cơ thể để tạo nên một cơ thể sống. Mặt xã hội bao gồm các yếu tố như: giao tiếp, nền văn hoá xã hội… Mặt tâm lý bao gồm những gì thuộc về tinh thần. Mặt sinh học và mặt xã hội làm nền tảng cho mặt tâm lý, không có mặt sinh học hay mặt xã hội thì không thể có mặt tâm lý. Vậy, tâm lý là gì? Tâm lý là toàn bộ những hiện tượng tinh thần nảy sinh và diễn biến ở trong não tạo nên nội tâm ở mỗi con người. Tâm lý thuộc về tinh thần chứ không phải là vật chất. Vì vậy, chúng ta không thể cầm, nắm, không thể thấy một cách trực tiếp được. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể hiểu được đặc điểm tâm lý của người khác thông qua hành vi của họ.

Như vậy, “Con vật có tâm lý hay không?”. Cũng giống như con người, con vật cũng có tâm lý. Tuy nhiên, tâm lý con vật không phát triển như tâm lý con người.

 

1.2. Khái niệm về tâm lý học:

Theo tiếng Latinh, “Psyche” có nghĩa là “linh hồn”, “tinh thần”. “Logos” là “học thuyết”, “khoa học”. Tâm lý học (Psychology) có nghĩa là khoa học về tâm hồn. Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn, Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về hành vi và những quá trình tinh thần.

     Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hành vitinh thần và tư tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người. Ngành này tập trung vào loài người, tuy một vài khía cạnh của động vật cũng thỉnh thoảng được nghiên cứu. Động vật ở đây có thể được nghiên cứu như là những chủ thể độc lập, hoặc – một cái nhìn gây tranh cãi hơn – được nghiên cứu như một cách tiếp cận đến sự hiểu biết bộ máy tâm thần của con người (qua tâm lý học so sánh). Tâm lý học được định nghĩa một cách rộng rãi như là “khoa nghiên cứu những hành vi và những tiến trình tâm thần của con người”. Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học. Tâm lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng, thông qua những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa học để thử và bác bỏ những giả thuyết. Tâm lý học có khuynh hướng chiết trung, sử dụng và tiếp thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học khác để hiểu và lý giải hành vi của con người. Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học:  Nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tâm lý, nghiên cứu mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý đó, nghiên cứu vai trò, chức năng của tâm lý đối với hoạt động của con người. “Tâm lý học nắm giữ chiếc chìa khóa để hiểu một cách tổng quát sự vặn hành con người như thế nào. Khi khám phá ra những điều nhà tâm lý học biết về con người nói chung thì ta có thể ứng dụng sự hiểu biết đó để thay đổi ứng xử của bản than và ứng xử của người khác theo chiều hướng tốt hơn”.[1]

 

CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC TÂM LÝ CON NGƯỜI

2.1. Triết học và tâm lý học?

Có người cho rằng, Triết học là “khoa học của mọi khoa học”, điều này chưa thật chính xác. Tuy nhiên, Tâm lý học có nguồn gốc từ Triết học. Vì thế muốn tìm hiểu những tư tưởng làm tiền đề, nền tảng cho sự phát triển của Tâm lý học cần phải có cái nhìn tổng quan và hệ thống các tư tưởng của những nhà Triết học.

2.2. Các trường phái tâm lý:

2.2.1. Tâm lý học thời cổ đại:

Trong các di chỉ của người nguyên thuỷ đã có những biểu hiện chứng tỏ con người có quan niệm về sự tồn tại của “hồn” “phách” sau cái chết của thể xác. Những bộ Kinh của Ấn Độ thời cổ đại đã đề cập đến “hồn” và cũng đã có những nhận xét về tính chất của “hồn”. Ngoài ra, một số học thuyết thời cổ đại cũng đề cập đến tâm tính của con người. Đó là những ý tưởng tiền khoa học về tâm lý.

Học thuyết Âm Dương-Ngũ Hành cũng với các tác gia tiêu biểu của Trung Quốc cũng đã đóng góp những ý tưởng sơ khai cho sự phát triển của Tâm lý học. Khổng Tử (551-479 TCN) và các học trò tiêu biểu của mình cũng đã nói đến chữ “Tâm”. Tính “Thiện” xuất phát từ “Tâm” mà khi sinh ra ai cũng có. “Tâm” chi phối đời sống tâm lý và hành vi của con người. Nhân tướng học cũng cho rằng “tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”. Qua những chi tiết trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng từ xa xưa con người đã nhận biết vai trò và tác động của yếu tố tâm lý đối với đời sống.

2.2.2.Tâm lý người theo quan điểm của Triết học duy tâm:

Hệ tư tưởng duy tâm cho rằng “linh hồn” của con người là do các lực lượng siêu nhiên như Thượng Đế, Trời, thần thánh… tạo ra. Linh hồn là cái có trước, còn thế giới vật chất là cái có sau.

Nhà triết học duy tâm cổ đại Platon (428-348) cho rằng, tâm hồn là cái có trước, thực tại là cái có sau và tâm hồn do Thượng Đế sinh ra. Tâm hồn trí tuệ nằm ở trong đầu, tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở từng lớp quí tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và chỉ có ở tầng lớp nô lệ.

D. Hium (1811- 1916), một nhà duy tâm thuộc trường phái bất khả tri cho rằng thế giới là những kinh nghiệm chủ quan, con người không thể nhận biết được tồn tại khách quan và phủ nhận cơ sở vật chất của sự vật.

2.2.3. Tâm lý người theo quan điểm của Triết học duy vật

Người và động vật đảm nhiệm chức năng dinh dưỡng, vì thế còn được gọi là tâm hồn dinh dưỡng. Tâm hồn động vật đều có ở người và động vật, đảm nhiệm chức năng cảm giác, vận động, vì thế còn được gọi là tâm hồn cảm giác. Tâm hồn trí tuệ chỉ có ở người hay còn được gọi là tâm hồn suy nghĩ. Đại diện của quan điểm duy vật với tâm lý con người còn phải kể đến tên tuổi của các nhà triết học như: Talet, Heraclit, Democrit, Socrate. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà Triết học trên thuộc trường phái duy vật sơ khai chất phát.

2.2.4. Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước:

Trong suốt thời kỳ “đêm trường trung cổ”, Tâm lý học mang tính huyền bí. Tri thức và các tư tưởng tiến bộ bị kìm hãm và thay vào đó là sự thống trị của nhà thờ và tu viện. Vì thế, các tư tưởng ở giai đoạn này mang nặng tính “kinh viện”.

vật:

Triết học duy vật cho rằng: tâm lý, tâm hồn là một, tâm lý gắn với thể xác. Tâm lý, tâm hồn đều cấu tạo từ vật chất. Người đầu tiên bàn về tâm hồn là Arixtốt (384-322 TCN). Arixtốt cho rằng, tâm hồn gắn liền với thể xác. Có 3 loại tâm hồn: tâm hồn thực vật, tâm hồn động vật và tâm hồn trí tuệ. Tâm hồn thực vật có cả ở

Đến thế kỷ XII, R. Decarter (1596-1650) cho rằng tâm hồn và vật chất là hai thực thể song song tồn tại, không thể biết được tâm lý của con người. Con người phản xạ như một chiếc máy.

Thế kỷ XVIII, Tâm lý học bắt đầu có tên gọi. Nhà triết học người Đức-Vônphơ đã chia nhân chủng học ra thành hai khoa học: khoa học về cơ thể và Tâm lý học. Năm 1732, ông xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm”. Năm 1734 “Tâm lý học lý trí” của ông được xuất bản và Tâm lý học ra đời từ đó.

Nửa thế kỷ XIX, L.Phơ bách đã đưa chủ nghĩa duy vật lên đỉnh cao thời bấy giờ. Ông là nhà duy vật lỗi lạc trước khi chủ nghĩa Mác ra đời. Theo L.Phơ bách, tinh thần, tâm lý không thể tách rời khỏi não người, nó là sản phẩm của thứ vật chất phát triển tới mức độ cao là bộ não người. Tâm lý là hình ảnh của thế giới khách quan.

 

CHƯƠNG 3  NGUYÊN NHÂN SỰ KHÁC NHAU VỀ TÂM LÝ GIỮA CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI

 

3.1. Cấu trúc bộ não

Bộ não là cơ quan quyền lực nhất của cơ thể, tuy vậy chỉ cân nặng có ba pounds. Não có ba phần chính: Đại não chiếm đa số thể tích của hộp sọ, nhiệm vụ giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến trí nhớ, suy tư và cảm xúc, đồng thời cũng điều khiển cả vận động. Tiểu não nằm ở phía sau đầu, bên dưới đại não, nó điều khiển sự phối hợp và thăng bằng. Cuống não nằm dưới đại não ngay phía trước tiểu não, nhiệm vụ nối não bộ với tủy sống và kiểm soát các chức năng tự động chẳng hạn như hô hấp, tiêu hóa, nhịp tim và huyết áp. Bộ não được nuôi dưỡng bằng những mạng mạch máu phong phú nhất của cơ thể. Với từng nhịp tim, các động mạch mang khoảng 20 tới 25% lượng máu cơ thể lên bộ não của , nơi có hàng tỉ tế bào sử dụng 20% lượng oxy và năng lượng trong máu mang tới. Khi đang tập trung suy nghĩ, bộ não của quý vị có thể dùng tới 50% năng lượng và oxy. Toàn bộ mạng lưới mạch máu ngoài các động mạch, còn bao gồm cả tĩnh mạch và các mao mạch.

Vỏ não: “Các nếp nhăn tư duy” .Bề mặt bộ não có nhiều nếp cuộn gấp đó là lớp vỏ ngoài chuyên biệt hóa của đại não gọi là vỏ não. Các nhà khoa học đã “vẽ bản đồ” vỏ não bằng cách nhận dạng những vùng có mối liên kết chặt chẽ với các chức năng đã được xác định. Các chức năng đặc biệt của từng phần ở vỏ não là nhận biết các cảm giác của cơ thể, thị giác, thính giác và khứu giác đối với môi trường bên ngoài, tạo ra tư duy, giải quyết các vấn đề và lập kế hoạch, tạo ra và lưu trữ vào ký ức, điều khiển các chức năng tự động. Bộ não chia làm hai bán cầu trái và phải. Các chuyên gia không chắc

chắn là “não trái” và “não phải” khác nhau về chức năng ra sao, ngoại trừ rằng: Bán cầu não trái điều khiển cử động của nửa bên phải cơ thể.Bán cầu não phải điều khiển cử động nửa thân bên trái, Ở con người, đa số vùng ngôn ngữ nằm chủ yếu trên bán cầu não trái, ở con người, đa số vùng ngôn ngữ nằm chủ yếu trên bán cầu não trái, hình ảnh phân tích chụp cắt lớp hình ảnh phát xạ hạt nhân (PET) trên bán cầu não trái thể hiện các vùng đặc trưng của hoạt động não gắn liền với, đọc hiểu chữ viết, nghe hiểu tiếng nói, tư duy qua lời nói, phát ngôn bằng lời nói. Qua cấu trúc bộ não và các chức năng của từng bộ phận cụ thể của hai bán cầu não trái

 

và phải, cho chúng ta thấy bộ não có vai trò quan trọng trong cuốc sống sinh hoạt cũng như giao tiếp hang ngày của con người. Chính vì vậy mỗi cá thể con người có những suy nghĩ, hành động cũng như tâm lý, ý thức khác nhau cũng phụ thuộc vào yếu tố cấu tạo của của não bộ. Cho nên cấu trúc bộ não cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến hình thành tâm lý của mỗ con người khác nhau

3.2.Môi trường sống, hoạt động xã hội:

“Con người luôn chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội nhất định. Quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người. Trong luận cương về Pheubach,  Marx đã từng khẳng định “bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng, vốn có của từng cá nhân riêng lẻ, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Qui luật cơ bản chi phối sự phát triển của xã hội loài người là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tâm lý của con người chịu sự tác động của các quy luật xã hội, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất. Con người sinh ra và lớn lên trong một môi trường nhất định. Môi trường đầu tiên là môi trường gia đình, làng xóm; lớn hơn nữa là địa phương, dân tộc, quốc gia, châu lục…Tất cả những môi trường này đều mang những nét đặc trưng về văn hóa được xem là bản sắc văn hóa. Trong quá trình sống, hoạt động và giao tiếp con người lĩnh hội nền văn hóa này một cách có ý thức hay vô thức. Từ đó giúp con người hình thành những chức năng tâm lý mới, những năng lực mới. Hay nói một cách khác, thông qua cơ chế lĩnh hội con người tổng hòa các quan hệ xã hội, nhập tâm những giá trị của nền văn hóa xã hội thành bản chất người, tâm lý người”[2]. Vì vậy yếu tố môi trường sống và hoạt động xã hội cũng ảnh hưởng và là nguyên nhân đưa đến hiện tượng tâm lý khác nhau của con người.

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

 

Con người là một chỉnh thể đa dạng, đa năng. Vì thế, nghiên cứu về tâm lý con người lại là vấn đề vô cùng hấp dẫn. với mục đích chung của mọi thời đại là làm sao để con người luôn luôn sống trong hạnh phúc và an lành, cho nên việc thấu hiểu cơ chế và diễn biến trong tâm lý con người là một vấn đề mang lại lợ ích thiết thực. từ việc thấu rõ cơ chế và bản chất của các hiện tượng tâm lý chúng ta có thể có hướng hành động theo sự hiểu biết một cách đúng dắn và hẳn nhiên sai lầm do thái độ chủ quan cũng như kiếm hiểu biết về tâm lý là điều mà chúng ta hoàn toàn tránh khỏi. Cuộc sống sẽ đầy lạc an hơn khi mọi người biết lắng nghe nhau nhiều hơn, chia sẽ với nhau nhiều hơn để cảm thông, để tháu rõ mà từ đó tạo nên mối dây gắn kết lại với nhau.

Cùng với xu hướng chung của nhân tâm hiện đại như thế, Tâm Lý Học đáp ứng đủ tiêu chí hòan thiện xã hội dựa trên sự hiểu biế và thực hành theo đó một cách triết để. Đây là bộ môn khiên chúng ta hiểu rõ con người của chúng ta nhiều hơn, giúp ta thấu tỏ được diễn biến tâm lý mình và người từ đó xây dựng nhau càng hoàn thiện và thiết lập một cõi hạnh phúc trên chính mảnh đất này bằng bàn tay của chúng ta, trái tim thân ái của mọi người.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB Đại học sưu phạm.

2. TS. Nguyễn Thị Huệ (chủ biên), Hỏi và đáp môn tâm lý học đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), Tâm lý đại cương (Dùng cho các trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm), Hà Nội.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Tâm lý học đại cương (Dùng cho các trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm), Hà Nội.

5. TS. Đinh Phương Duy (2007), Tâm lý học, NXB Giáo dục

6. Nguyễn Ngọc Phú (2004), Lịch sử Tâm lý học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên), Nguyễn Đức Hưởng (2003), Các thuyết phát triển tâm lý người, NXB Đại học Sư phạm.

8. PGS.TS. Trần Tuấn Lộ (2003), Tâm lý học đại cương I, Tài liệu giảng dạy cho khoa Tâm lý học trường Đại học Văn Hiến.

 

 

 

 


[1] Tâm Lý Học, TS. Đinh Phương Duy, Nxb Giáo Dục, Chương 1, trang 6.

[2] Tài liệu giảng dạy tại học viện Phật Giáo HCM của thạc sĩ tâm lý Ngô Minh Duy

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s