TIỂU LUẬN MÔN VĂN HỌC PALI

  1. A.  Dẫn Nhập

 

Từ trước đến nay, trong lịch sử nhân loại chưa hề có một tôn giáo nào mà kinh điển lại nhiều như Phật giáo. Toàn bộ kinh điển của Phật giáo chia làm ba loại gọi là Tam Tạng (Tripitaka). “Tạng” (Pitaka) có nghĩa là chứa đựng. Tam tạng gồm có: kinh (Sũtra, Pali: sutta), Luật (vinaya) và Luận (Abhidharma, Pali: Abhidamma). Kinh là lời tư liệu ghi lại những lời Phật dạy.[1] Luật là ghi chép những giới luật của tăng đoàn. Luận là tác phẩm giải thích về kinh.

1./ Lý do chọn đề tài

Trong kho tàng văn học phật giáo bao gồm các bản gốc và các bản dịch được tìm thấy phần lớn trong các ngôn ngữ Sanskrit, Pàli, Tây tạng và Trung hoa. Văn học pàli xuất hiện rất sớm và chiếm một số lượng lớn. Do xuất hiện sớm và được bảo lưu khá tốt, văn học pàli lưu giữ niềm thông tin và tài liệu quan trọng liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp truyền giáo của đức Phật, các sự kiện, chính trị, kinh tế, xã hội, hoạt động của các trường phái tư tưởng và tôn giáo khác nhau hiện diện trong thời đại của Ngài, song song với các quan điểm tư tưởng và thực hành tôn giáo mà Ngài đã đề ra cho các đệ tử. Như vậy văn học Pàli đóng vai trò quan trọng trong Phật giáo bởi trước hết nó chứa đựng các tài liệu liên quan đến bậc đạo sư và những lời dạy của Ngài.

2./ Lịch sử nghiên cứu đề tài

Sự nghiệp 45 năm thuyết pháp độ sinh của đức Phật để lại nhiều ấn tượng lớn và lưu lại nhiều thành quả văn hóa tâm linh sâu sắc không ngừng đánh thức và khuyến khích thiện tâm trong lòng mọi người ở trong mọi thời đại. Đức Phật đại diện cho sự giác ngộ ở đời và là tấm gương lớn của sự nghiệp rộng mở con đường giác ngộ. Phát biểu về Ngài, người ta dùng các lời lẽ trang trọng như thế này: “Thế Tôn đã giác ngộ, ngài thuyết pháp để giác ngộ. Thế Tôn đã điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đã tịch tĩnh, ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đã vượt qua, ngài thuyết pháp để vượt qua. Thế Tôn đã chứng Niết- bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết- bàn.[2] Hoặc họ biểu cảm: “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày.”[3] Và như thế, với chủ đề đặt ra cũng có nhiều nghiên cứu nhắc đến, tuy nhiên, ở đây nghiên cứu sinh muốn nhấn mạnh đến nét riêng mà hiếm thấy bài viết nào đề cập.

3./ Phạm vi nghiên cứu

Chúng ta có thể nói rằng đây chính là động lực sâu xa nhất của những gì ta gọi là thành quả đóng góp của phật giáo cho cuộc đời, trong đó có sự nở hoa của vườn văn học Pàli. Để hiểu rõ về giá trị cũng như tầm quan trọng về văn học Paøli, cũng như lời dạy của đức thế tôn. Người viết xin  trình bày “ Thuyết Tứ Đế Trong Kinh Tạng Pàli” được dựa trên Kinh Trung Bộ.

4./ Phương pháp nghiên cứu

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­Với đề tài này, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp liệt kê, phân tích rồi sau đó tiến hành quy trình tổng hợp để đúc kết những nét nhấn của vấn đề. Ngang qua quá trình tầm tra và lựa chọn tư liệu 1 và tư liệu 2 đã chú trọng đến văn phong, câu chữ đã đươc các tư liệu sử dụng.

5./ Giả định

Tuy bài nghiên cứu hơi nghiên về vấn đề hành văn trong văn phạm Pàli, nhưng qua đó , nghiên cứu sinh muốn đề cập nhiều hơn đến lợi ích tuyệt đối của một giáo lý cao đẹp. Chính điều ấy đã làm cho giáo lý ấy sống mãi với thời gian, trãi qua biết bao thăng trầm và biến thiên của cuộc sống nhân loại. Qua đó, ta thấy được cái hay cái đẹp của Giáo Pháp Đức Phật không những ở chỗ thậm thâm vi diệu mà ngy cả nơi phương thức diễn đạt, cách hành văn cũng vô cùng tuyệt mỹ, nghệ thuật đến chỗ vô song.

 

  1. B.  Nội Dung

 

I. Khái Quát Về Kinh Trung Bộ

1. Giới Thiệu

Trung Bộ Kinh là một trong năm bộ kinh của Kinh Tạng, gọi là Trung Bộ vì mang hình thức trung bình, đó là những pháp thoại mà phần lớn được Ðức Phật trực tiếp truyền dạy cho Chư Tăng trong sinh hoạt hàng ngày của Ngài. Vì thời lượng vừa phải nên những lời bài kinh trong Trung Bộ Kinh chuyên chở những đề tài như những bài tiểu luận và chính vì thế nên phong phú và sâu sắc. Theo nhiều học giả thì nội dung nổi bật nhất của Trung Bộ Kinh là Phật ngôn hướng dẫn cách tu tập cho các hành giả, ở đây thường chỉ cho các tỳ kheo. Hòa thượng Thích Minh Châu, dịch giả của Kinh Tạng Pàli, đã viết trong lời giới thiệu bản dịch: “Chỉ có người đọc, sau khi tự mình đọc, tự mình tìm hiểu, tự mình suy tư, tự mình quan sát, tự mình chứng nghiệm trên bản thân mới có thể tự mình tìm hiểu và thấy đoạn nào là thật sự nguyên thủy. Trách nhiệm tìm hiểu, chứng nghiệm trên cá nhân là trách nhiệm của người đọc, không phải của người dịch, vì đạo Phật là đạo đến để mà thấy chớ không phải đạo đến để nhờ người khác thấy hộ, đạo của người có mắt (Cakkumato), không phải đạo của người nhắm mắt; đạo của người thấy, của người biết (Passoto Jànato), không phải là đạo của người không thấy, không biết (Apassoto Ajànato). Nên chỉ có người đọc mới có thể tự mình thấy mình, tự mình hiểu và tự mình chứng nghiệm”. Nội dung Kinh Trung Bộ quả thật cho chúng ta cơ hội trắc nghiệm quý báu đó.

Sách viết có vẻ như tóm lược nhưng có thể cung cấp cho chúng ta những dữ kiện Văn học Phật giáo hệ Pàli một cách đầy đủ, giống như một bức tranh sơn thủy, khi nhìn ngắm, người ta sẽ có cảm giác được tham quan một cảnh trời sông núi hùng vĩ vậy.

2. Nội Dung Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikàya)

Ở đây gồm những bài Kinh không đến nỗi quá dài như Trường Bộ, dù cũng không phải là quá ngắn. Bộ Kinh gồm 152 bài Kinh được chia thành 3 phần. Cũng giống như Trường Bộ Kinh, mỗi bài Kinh của Trung Bộ đều có một tiêu chí giáo lý độc lập.

Nội dung của Trung Bộ Kinh bàn về tất cả những vấn đề giáo lý căn bản và phổ biến nhất của Phật Giáo như Bốn Thánh Đế, lý nhân quả, tính tập khí của tham ái, lý vô ngã, vấn đề Niết-bàn,… Trung Bộ Kinh còn có nội dung phê bình các dòng giáo lý vô lối của ngoại đạo như Bà-la-môn giáo, Kỳ-na giáo (Ni kiền tử). Đồng thời cũng nêu rõ quan điểm đạo đức học, xã hội học của Phật Giáo truyền thống. Bản thân Trung Bộ Kinh cũng đủ là một bức tranh lớn về những khía cạnh xã hội và tôn giáo của Ấn Độ cổ đại.

Cũng như ở trường hợp Trường Bộ Kinh, trong Trung Bộ Kinh cũng gồm đủ những bài Kinh nguyên thủy và những bài hậu bổ về sau. Bên cạnh đó, hình ảnh Đức Phật ở đây đó trong Trung Bộ Kinh cũng không được thống nhất. ở đôi chỗ, Ngài chỉ là một bậc Đạo Sư trong hình hài một con người dung dị. Nhưng ở đây, một vài chỗ khác thì Ngài có vẻ như một Ông Thần, một vị Thánh siêu nhiên.

 

II.  Nhân duyên Phật nói pháp Tứ Đế

Sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn do dự không muốn thuyết Pháp và định nhập Niết Bàn. Phạm thiên Sahampati, lúc bấy giờ đọc được tư tưởng của Thế Tôn, sợ rằng chúng sanh sẽ càng thêm đoạ lạc, nếu không nghe được chánh Pháp, bèn đến cung thỉnh Ngài hãy thương tưởng đến muôn loài mà ở lại nơi đời để thuyết pháp giáo hoá.

Khi vị phạm thiên cung thỉnh đến lần thứ ba, Đức Thế Tôn liền dùng huệ nhãn quán sát thế gian, và quyết định hóa độ. Trước khi lên đường du hoá, Đức Thế Tôn quan sát: “Ai là người sẽ lãnh hội mau chóng giáo pháp ?”. Ban đầu Ngài nghĩ đến hai vị thầy cũ của mình là Alarakamala và Uddaka, nhưng cả hai vị này đều đã qua đời. Sau đó, ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu khổ hạnh với Ngài trước kia, hiện đang ở vừơn nai, thuộc xứ Isipatana, gần thành Banares và Ngài khởi hành đến đó.

Tại đây, với bài pháp đầu tiên, Đức Phật khuyên các vị tu sĩ hãy tránh xa hai cực đoan là tham đắm dục lạc và khổ hạnh ép xác. Vì cả hai lối tu này đều đưa đến khổ đau, không lợi ích. Rồi Ngài giảng về bốn chân lý cao thượng, hay còn gọi là bốn sự thật chân chánh, hay Tứ Thánh Đế, bao gồm: Khổ, Tập, Diệt. Đạo.

 

 

III.  Khái quát về Thuyết Tứ Đế (Catursatya)

1. Định Nghĩa

Còn gọi là Tứ Thánh đế, Tứ Diệu đế. Đế (Satya) là chân lý, sự thật. “Thánh”, “Diệu” là thần thánh, cao cả. Tứ Thánh đế (Satya- catustaya) hay Tứ đế nghĩa là “ bốn chân lý giải quyết triệt để vấn đề vũ trụ nhân sinh.”[4] Bốn chân lý đó là:

Khổ đế (Duhkha- satya)

Tập đế (Samudaya- satya)

Diệt đế (Nirodha- satya)

Đạo đế (Mãrga- satya)

“Khổ đế” và “Tập đế” nhắm thuyết minh cuộc sống con người là khổ và nguyên nhân của nổi khổ đó. “Diệt đế” và “Đạo đế” nhằm thuyết minh luận chứng “khổ” của con người là hoàn toàn có thể khắc phục được (giải thoát) và con đường khắc phục điều đó.[5]

2. Thuyết Tứ đế

a. khổ đế (Duhkha- satya)[6]

Khổ Đế hay còn gọi là Khổ Thánh Đế, là một sự kiện hiển nhiên, phổ biến trong cuộc đời. Gọi là Khổ Thánh Đế vì sự thật này được chứng nghiệm bởi chính trí tuệ của Đức Phật.

Đức phật khẳng định khổ là một thực trạng bi đát mà con người không sao tránh khỏi được, dù là kẻ khôn ngoan trí thức hay kẻ hèn hạ khó nghèo. Kinh Trung Bộ III Đức Phật dạy: “Thế nào là khổ thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, uư, não là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ[7] Ngoài ra, Khổ Thánh Đế còn được hiểu là trạng thái bức bách, dao động, phiền não, bất an về các mặt như : vật lý, tâm lý và triết lý.

Khổ về vấn đề triết lý: Là do sự chấp thủ 5 uẩn. Trong Kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật dạy :

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Thảy đều y như nhau

Thảy đều là vô ngã

Thảy đều chịu khổ đau”. [8]

Qua lời dạy này, chúng ta thấy tất cả các pháp là vô thường, vô ngã, nhưng vì chúng sanh mê muội, tham đắm, chấp thủ năm uẩn nên  sanh ra đau khổ. Đây là hình thức trọng yếu nhất của sự khổ.

b. Tập đế (Samudaya- satya)

Tập là chứa nhóm, tích tụ, chiêu cảm. Tập đế chính là những nguyên nhân hiển nhiên hội tụ tạo thành năng lực đưa đến những nỗi thống khổ của chúng sanh. Nguyên nhân của khổ đau rất nhiều, nhưng gần gũi và dễ thấy nhất chính là tham ái. Tham ái được dịch từ phạn ngữ Tanhà, là chỉ cho trạng thái khát khao, ước muốn, dục vọng, đam mê… tham ái cũng chính là một năng lực tinh thần rất mạnh mẽ, nó có khả năng tạo nên đời sống và hình thành thân sau.

Vì vô minh nên không thấy rõ bản chất  của tất cả mọi sự vật một cách sáng suốt, từ đó mới khởi tâm tham ái. “nếu chân lý về khổ đế chỉ bao hàm thực tại hằng ngày như lão, bệnh tử…thì thực ra đức phật không dạy chúng ta điều gì mới lạ cả.”[9]

Thế nên muốn thoát khỏi khổ đau, phải vận dụng trí tuệ quán sát các pháp đúng như thật, để phá dần ý niệm tham muốn, chấp thủ, viễn ly các khổ ách của đời sống.

c. Diệt đế (Nirodha- satya)

Diệt Đế hay Diệt Thánh Đế là sự chấm dứt phiền não, khổ đau hay những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, tức ái diệt, đó là trạng thái an lạc, tịch tĩnh của tâm hồn. Khi tham ái được dập tắt thì sự chấp thủ cũng không còn, dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não … cũng diệt và vô minh, hành, thức… đều diệt, tức không còn chịu sự thống khổ nữa, tâm được thanh thản nhẹ nhàng, giải thoát hay còn gọi Niết bàn.(Nibbãna). Hay nói như kinh tạp A hàm: “Chấm dứt tham, sân, si không còn phiền não, như vậy gọi là niết bàn.”[10] Nhưng Niết bàn là phải do tự thân tu tập, chứng nghiệm chứ không thể dựa vào ngôn từ hay hình ảnh mà biết được. Vì thế, khi nói đến Niết bàn các kinh điển thường sử dụng những từ ngữ có tính chất phủ định như vô vi, tịch tĩnh, ái diệt, khổ diệt, giải thoát … nhằm nói lên trạng thái tĩnh lặng của tâm hồn do từ bỏ mọi đam mê dục vọng.

d. Đạo Đế (Mãrga- satya)

Đạo đế còn gọi là đạo thánh đế, đạo đế. Tức là “phương pháp để đạt được trạng thái tịch diệt, loại trừ mọi đau khổ phiền não trong cuộc sống[11] Đạo đế nói cho đủ thì gồm có 37 phẩm trợ đạo, nói gọn lại thì đó là Bát Thánh Đạo hay còn gọi là Bát Chánh Đạo. Đây là tám phương pháp tu tập mầu nhiệm để giúp con người diệt trừ tất cả các lậu hoặc, nghiệp chướng, khổ đau. Bát Thánh Đạo chính là :

ï Chánh Kiến (sammã- dithi): Loại bỏ tà kiến, thể hiện sự hiểu biết đầy đủ về Phật pháp, là trí huệ của Phật pháp.

ï Chánh Tư Duy (sammã- sammkappa): Tư duy đúng đắn về tứ đế, là suy tư đúng đắn về trí tuệ Phật giáo.

ï Chánh Ngữ (sammã- vãcã): Lời nói đúng đắn, không giả dối.

ï Chánh Nghiệp (sammã- kammanta): Hành vi đúng đắn, giữ gìn đừng để sai lầm về thân, khẩu, ý.

ï Chánh Mệnh (sammã- ãjiva): Mưu sống đúng đắn (về nghề nghiệp).

ï Chánh Tinh Tấn (sammã- vyãyama): Nỗ lực tu hành không lười nhác.

ï Chánh Niệm (sammã- sati): Niệm là luôn nhớ tới, không quên, luôn nhớ tới những điều đúng đắn.

ï Chánh Định (sammã- samãdhi): Thiền định đúng đắn.

IV. Khổ Diệt Thánh Đế Và Những Giá Trị Thiết Thực.

1. Vài nét về Khổ Diệt Thánh Đế :

Kinh Trung Bộ III, Đức Phật đã dạy rằng : “Sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm, (Tham ái) ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ  Diệt Thánh Đế[12]

Như vậy, Diệt Đế chính là kết quả tất yếu, là mặt đối lập của khổ đau trong cùng một tiền đề. Một khi không còn ái dục thì khổ đau cũng không còn.  Tuy nhiên, ái dục ấy phải được diệt tận hoàn toàn tận gốc rễ, nghĩa là hành giả phải thấy rõ được bản chất và tác động của ái dục vốn nguy hiểm và tệ hại như thế nào. Từ đó mới có thể cố gắng nổ lực tu tập, đoạn trừ ái dục.

Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy : “Người nào sống trong hạnh phúc viên mãn là con người đã dứt trừ được mọi dục vọng và đã đạt được tâm thanh tịnh“. Dứt trừ mọi dục vọng chính là dứt trừ mọi vọng tưởng điên đảo về sự tham ái đối với mình và người, bởi vì ái dục không chỉ là yêu thích người khác, mà yêu thích chính bản thân mình cũng là ái dục. Khi mọi dục vọng đã được đoạn trừ thì con người ta sẽ đạt được trạng thái thanh tịnh của tâm hồn, khiến cho cuộc sống trở nên an vui và hạnh phúc.

       2. Khổ Diệt Thánh Đế – Con Đường Đoạn Tận Sầu Muộn

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy :

“Do ái sinh sầu ưu                                         Piyato jaayatii soko

Do ái sinh sợ hãi                                           piyato jaayatii bhaya.m

Ai thoát khỏi tham ái                                   Piyato vippamuttassa

Không sầu, đâu sợ hãi”[13]                             natthi soko kuto bhaya.m. 

Chính do lòng tham ái là nguyên nhân trực tiếp, gần gũi gây ra mọi sầu ưu và sợ hãi cho con người. Ví tham ái nên con người luôn muốn gìn giữ, bám víu vào những gì mình ưa thích. Thế nhưng, khi không đạt được ước muốn ấy thì con người ta sẽ cảm thấy buồn rầu, đau khổ. Do vậy, khi người ta quyết tâm từ bỏ ái dục thì không còn phải lo sợ, buồn phiền, sầu muộn nữa.

Chỉ có sự chuyển đổi trong tâm thức mới đem lại cho ta niềm an vui thật sự, như Dhammananda đã nói : “Bạn không thể nào thay đổi thế giới theo mong muốn của mình nhưng bạn có thể thay đổi tâm tính mình để đạt được hạnh phúc”  [6, 59] . Tâm tánh mỗi người hoàn toàn có thể thay đổi được nếu người ấy có sự quyết tâm và kiên trì thực hiện. Phần đông chúng ta đều có khuynh hướng chiều theo những ý muốn, những sở thích của chính mình, cho dù đó là những ý muốn bất thiện, để rồi khi gánh lấy hậu quả khổ đau thì ta mới biết ăn năn hối hận..

 

5.  Khổ Diệt Thánh Đế- Con Đường Đạt Đến An Lạc Tối Thượng

 a. Tịnh Hoá Tâm Hồn

Đức Thế Tôn có dạy rằng : “Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ái nào bằng ái sân hận, không khổ nào bằng khổ ngủ uẩn và kông vui nào bằng vui Niết bàn (Natthi raagasamo aggi, natthi dosasamo kali, Natthi khandhasamaa dukkhaa, natthi santipara.m sukha.m)”[14]. Thật vậy, khi ngọn lửa tham dục bùng lên thiêu đốt tâm can con người thì dễ khiến cho con người trở nên điên đảo, mê vọng, không còn một chút tỉnh táo và gây nên biết bao khổ cảnh cho thế gian. Chỉ có những người nào dứt trừ được ái dục một cách trọn vẹn thì mới không còn vướng vào sầu khổ nữa, người ấy sẽ thoát khỏi tâm trạng lo âu, sợ sệt, tham lam, sân hận, tâm hồn được an tịnh, đạt đến trạng thái tốt đẹp hoàn toàn thanh tịnh của tâm, tức Niết bàn hiện hữu. Do vậy, khi tiếp xúc với ngoại cảnh, tâm không bị dao động, nên vị ấy dễ dàng đi vào cuộc đời để độ sanh mà không hề bị vướng mắc, như chim bay giữa hư không mà không để lại dấu vết.

b. Nguồn An Lạc Vô Biên 

Khi nói đến Khổ Diệt Thánh Đế là Đức Phật hoàn toàn tin tưởng vào khả năng tu tập giải thoát của con người. Chân lý này đã mở ra một lối đi quang đãng, an lành để đưa mọi người vế đến bờ bình yên. Trên lối đi ấy, mỗi người đều có thể vững vàng bước đi nếu biết tự củng cố cho mình đầy đủ niềm tin về con đường diệt khổ và khả năng đạt được giải thoát của chính bản thân mình, thoát ly sanh tử. “Sung sướng thay chúng ta sống không tham dục giữa những người tham dục ! giữa những người tham dục ta sống không tham dục[15]

 

 

 

 

 

 

 

  1. C.  Kết Luận

 

Văn học pàli đóng vai trò rất lớn đối với nhiều nền văn hóa ở châu Á và ảnh hưởng của nó vẫn còn sâu sắc và sống động trong đời sống của con người và xã hội tại nhiều quốc gia. Thật khó là lường hết tiềm năng to lớn của kho tàng văn học này đối với đời sống con người một khi nghiên cứu đầy đủ và vận dụng đúng, bởi lẽ nó chứa đựng nhiều tinh hoa Phật giáo xuất phát từ nền tảng những lời dạy thánh thiện của bậc Đại giác[16]

Qua nội dung “Thuyết Tứ Đế Trong Kinh Tạng Pàli” ta có thể thấy được một phần nhỏ trong kho tàng văn học pàli mà điển hình là kinh Trung bộ

Mặc dù nhiều bài kinh trong Trung Bộ Kinh là để giảng dạy các tu sĩ, chúng ta cũng thấy có nhiều bài kinh mà Ðức Phật giảng dạy cho các thành phần khác trong xã hội, trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh khác nhau: từ các bậc vua chúa vương giả, chư thiên, các bậc chân tu khổ hạnh của các giáo phái khác, cho đến những nông dân, thương gia, tướng cướp, học giả, và các nhà hùng biện, v.v… Trong đó, chúng ta được dịp tìm hiểu và học tập những pháp môn quan trọng của Ngài như: Tứ Diệu Ðế, Bát Chánh Ðạo, Vô Ngã, Niết Bàn, Thập Nhị Nhân Duyên, Nghiệp Hành và Tái Sinh, Các Tầng Thiền-na, Các Pháp Quán Niệm, Các Bậc Giải Thoát, Các Thế Giới Luân Hồi, v.v…

Một cách giảng tứ diệu đế theo ngôn ngữ ngày nay là: Khổ là hậu quả của một lối sống vô ý thức về nhiều mặt; Tập là lối sống vô ý thức ấy; Diệt là sự hết khổ nhờ lối sống hoàn toàn được thắp sáng với ý thức hay chánh niệm tỉnh giác trong mọi lúc; đạo là lối sống có chánh niệm, có ý thức vào mọi lúc. Hay nói cách khác, đạo là cách sống có ý thức ở tám phương diện: thấy có ý thức, suy nghĩ có ý thức, nói có ý thức, làm có ý thức, sinh nhai có ý thức, siêng năng có ý thức, nhớ có ý thức, tập trung có ý thức. Chỉ khi vô ý thức thì ta mới đau khổ vì thấy những gì không đáng thấy, nghĩ những cái không đáng nghĩ, nhớ những gì không đáng nhớ, làm những gì không đáng làm, v.v.v….

Với giáo lý Tứ Thánh Đế, đức Phật đã chỉ rõ về khổ và con đường diệt khổ một cách khá đầy đủ, vậy muốn thoát khổ thì mỗi người phải tự dấn thân trên con đường ấy.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Ayya khema, Diệu Đạo dịch, Vô Ngã Vô Ưu, Thiền Quán Về Phật Đạo

2. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bộ, Tập III, Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1975.

3. Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Giáo trình giảng dạy TNS-HVPGVN Tại TPHCM,1996.

4. Đại Tạng Kinh VN, Trung A Hàm

5. Đại Tạng Kinh VN, Tương Ưng Bộ, Quyển V, NXB Tôn Giáo, 2002.

6. Dhammananda, Nhuận Châu dịch, Làm Sao Tránh Khỏi Sự Sợ Hãi Và Lo Lắng, NXB Tổng Hợp TPHCM.

7. Trí Hải, Bóng Nguyệt Lòng Sông, NXB Tôn Giáo, 2004.

8. Trí Hải, Từ Nguồn Diệu Pháp, NXB Tôn Giáo, 2004.

9. Thích Thiện Nhơn biên soạn, Đại Cương Luận Thành Duy Thức, Giáo trình giảng dạy TNS- HVPGVN Tại TPHCM, 2004.

10.Tarthang Tulku, Minh Chi dịch, Những Yếu Tố Căn Bản Để Sống Thanh Thảnh Và Nhẹ Nhàng, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2004.

11. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB TPHCM, 1999.

12. Thích Trí Tịnh dịch, Đại Bát Niết Bàn, Quyển I, NXB TPHCM, 1999.

13. Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Pháp Hoa, THPG TPHCM, 1989.

14. Thích Thiện Siêu dịch, Kinh Pháp Cú, NXB Thuận Hoá-Huế, 1996.

15. Thích Tâm Minh, Khảo Cứu Về Văn Học Pàli. Nxb Phương Đông, 2006.

 


[1] Cũng có những trường hợp gọi là “Kinh” nhưng không phải lời Phật dạy. ví dụ như Lục Tổ Đàn Kinh, Na Tiên Tỳ Kheo Kinh

[2] Tiểu kinh Saccaka, Trung Bộ.

[3] Được tìm thấy ở rất nhiều kinh Pàli.

[4] Phật Học Đại Từ Điển, Thương vụ Ấn thư quán quốc tế hữu hạn công ty, Bắc Kinh, 1994, tr 177.

[5] Ngũ phân luật, 15; Tứ phân luật, 32.

[6] “khổ”, Sanskrit: duhkha, Pali: Dukkha, tiếng Tạng: Sdughbsngal. Duhkha, nguyên văn Sanskrit do từ du và từ kham hợp thành. Du là ghét bỏ, chán ghét, kham là trống không, hư không. Vừa chán ghét nhưng lại vừa trống không. (Phật Học Đại Từ Điển, Thương vụ Ấn thư quán quốc tế hữu hạn công ty, Bắc Kinh, 1994, tr338. Narada  lại hiểu “duhkha là một sự  hư  vô đáng khinh miệt” (Đức Phật và Phật Pháp, tr. 325) Đây là một từ khó dịch chính xác, cho nên tạm dịch là “khổ”. Tiếng Anh được dịch là: unsatisfactoriness, suffering, commotion, turmoil unrest…..

[7] Đế Phân Biệt Tâm Kinh, Quyển 2, tr 470.

[8] Bản dịch của Ni Trưởng Huỳnh Liên

[9] Thiện Cẩm, Quan niệm giải thoát trong Phật giáo cũ. Sài gòn, 1970. tr, 34.

[10] Tam độc: tham (tham lam), sân (ghét bỏ), si (ngu si). Xem kinh tạp A Hàm. q. 18.

[11] Phật học đại từ điển, sđd, tr 489.

[12] Trích kinh trung bộ .Bài Kinh Phân Biệt Về Sự Thật [2, 564].

[13] Kinh pháp cú 212.

[14] Kinh pháp cú 202.

[15] Kinh pháp cú 199.

[16] Thích Tâm Minh, Khảo Cứu Về Văn Học Pàli. Nxb Phương Đông 2006

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s