ĐỀ TÀI “tình hình sinh hoạt Phật Giáo Việt Nam “xứ Giao Châu” thời Phật giáo du nhập”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008.
  2. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
  3. 3.      Nguyễn Hiền Đức, Tài liệu học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Sơ lược lịch sử Phật giáo Việt Nam.
  4. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989.
  5. TS. T Phước Đạt (Bài viết) Phật giáo Việt Nam trong qua trình tiếp biến và hội nhập.
  6. Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Mâu Tử, Nxb

 

 

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN……………

A/ DẪN NHẬP……..

B/ NỘI DUNG………..

  1. 1.      BỐI CẢNH LỊCH SỬ PHẬT GIÁO MỚI DU NHẬP

1.1.           Quá trình du nhập Phật giáo

1.2.           Sự hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu

  1. 2.      SINH HOẠT PHẬT GIÁO XỨ GIAO CHÂU THỜI MỚI DU NHẬP

2.1.     Giới  thiệu tác giả tác phẩm Lý hoặc Luận

2.2.     Cuộc tranh luận của giới trí thức Nho giáo và Lão giáo đối với Phật giáo

  1. 3.      NHỮNG QUAN ĐIỂM CHÍNH THỐNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỂ TRẢ LỜI  NHỮNG NGHI HOẠT CỦA NHO VÀ LÃO GIÁO

3.1             Quan niệm về Phật

3.2             Quan nệm về Pháp

3.3             Quan niệm về Tăng

3.4             Quan niệm về Hiếu Hạnh

3.5             Quan niệm về sự sinh hoạt Tăng già thời bấy giờ

C/ KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 

 

A/ DẪN NHẬP

Như chúng đã biết, đạo Phật là đạo của sự sống, đạo của lẽ thật, luôn đặc trọng tâm lấy từ bi, cứu khổ ban vui, nhằm mục đích đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh được an lạc, hạnh phúc. Chính vì vậy khi đạo Phật được truyền sang Việt Nam thì được sự đón nhận của cư dân bản địa rất nồng nhiệt, nên Phật giáo đã dễ dàng hòa quyện vào bản sắc văn hóa xứ Việt và luôn đồng hành cùng với cuộc sống của dân tộc Việt Nam. Qua đó dân tộc ta đã biết tiếp thu, học hỏi những điều hay lẽ phải những cái tinh túy nhất để dung hòa vào những giá trị đích thực của cuộc sống. Cho nên, đạo Phật đã dóng lên hồi chuông phản tỉnh rồi dần dần đi sâu vào dòng tâm thức của mỗi con người Việt, cũng là món ăn tinh thần thú vị không thể thiếu của dân tộc ta. Cho nên “Phật giáo đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển cùng với dân tộc kiến thiết xây dựng bảo vệ đất nước”[1].

Hay nói khác hơn Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam đã hình thành trung tâm Phật Giáo Liên Lâu (Luy Lâu) tại Giao Chỉ “một chiếc nôi của Phật giáo”.  Là một nét đặc trưng sâu sắc để làm nên lịch sử Phật giáo Việt Nam. Như vậy, cho đến nay, sự sinh hoạt hình thành trung tâm Phật Giáo Luy Lâu vẫn đang là đề tài nóng bỏng khá lôi cuốn đối với người muốn tìm hiểu về Phật Giáo Việt Nam. Qua bài viếc này, tôi xin được giới thiệu sơ lược về “tình hình sinh hoạt Phật Giáo Việt Nam “xứ Giao Châu” thời Phật giáo du nhập” để giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về chiếc nôi hình thành Phật giáo tại Luy Lâu và phát triển bền vững cho đến ngày nay.

 

 

 

 

 

B/ NỘI DUNG

  1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ PHẬT GIÁO MỚI DU NHẬP

1.1.           Quá trình du nhập Phật giáo

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, là cái gạch nối địa lý giữa hai nước lớn có nền văn minh cổ xưa nhất của Châu Á. Đó là Ấn Độ và Trung Hoa. Với một địa thế nằm kẹp giữa hai nước lớn và chịu sự ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa cổ xưa đó, nên Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng một nền văn hóa này. “Bán đảo Đông Dương, nằm giữa biển Đông và vịnh Băng-gan, được cấu thành một số dãy núi từ Tây Tạng dài về phía Đông Nam xuống biển. Giữa các dãy núi đó là những thung lũng lòng các con sông lớn như sông Ménan tạo thành đồng bằng Thái Lan, sông Mêkông tạo thành các đồng bằng Campuchia và Nam Bộ, sông Hồng, sông Đà tạo thành đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam”[2].

Chính vì địa thế thuận lợi như vậy cho phép Việt Nam thông thương với Ấn Độ, nước này giỏi về ngành hàng hải và buôn bán. Cho nên sau khi Phật giáo hình thành và phát triển thì ngành thương mại bằng đường biển cũng theo đó mà phát triển mạnh. Nên đạo Phật được biết đến ở nước ta qua những sinh hoạt hằng ngày, của các tu sĩ và tín đồ thực hiện những nghi lễ tâm linh nhằm mục đích mong cầu được bình an. Từ đó những tu sĩ này được sự tín nhiệm và ủng hộ mạnh mẽ của đại đa số cư dân bản địa và các thuyền buôn. Nhờ đó mà Phật giáo được truyền bá rộng rãi ra nước ngoài, Ấn Độ trở thành nước trung gian trong việc thương mại giữa các nước Tây Phương và Đông Phương.

Điều này chứng tỏ rằng, “Phật giáo Việt Nam được truyền từ Ấn Độ vào nước ta chứ không phải từ Trung Quốc như các sách sử đã viếc. Cho nên khi hình thành và phát triển mới có sự giao lưu giữa Phật giáo Việt Nam và Trung Quốc vào khoản thế kỷ thứ II-III sau dương lịch, và trung tâm Phật giáo nỗi tiếng như Luy Lâu ở Giao châu Việt Nam cùng Lạc Dương và Bành Thành ở Trung Quốc”[3]. Hay nói khác hơn Phật giáo du nhập vào nước ta vào những buổi đầu đã biết tiếp thu những yếu tố văn hóa Việt để hòa nhập và tồn tại. Nên nó đi sâu vào đời sống xã hội phù hợp với tín ngưỡng dân giang. Từ đó mới làm thềm thang cho sự hình thành trung tâm Phật giáo lớn tại Luy Lâu sau này.

1.2.           Sự hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu

Như chúng ta đã biết, “vào đầu kỷ nguyên Ấn Ðộ đã có sự liên hệ thương mại trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải, Ðế quốc La Mã tiêu thụ rất nhiều vàng, lụa, trầm, quế, tiêu, ngà voi, châu báu… Ðể có đủ hàng cung cấp cho thị trường ấy, các thương gia Ấn Ðộ đã dong thuyền đi mãi về Viễn Ðông. Những thương thuyền này theo gió mùa Tây Nam đi về Ðông Nam Á, tới bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ. Thương gia Ấn Ðộ phải ở lại đây cho đến năm tới, chờ cho gió mà Ðông Bắc để trở về Ấn Ðộ. Lúc này, họ lại sống với dân bản xứ và đã ảnh hưởng tới dân bản xứ bằng lối sống văn minh của họ. Vì sự có mặt của những thương gia Ấn Ðộ mà dân ta hồi đó đã biết đến ít nhiều về kỹ thuật canh tác, y thuật và tôn giáo Ấn Ðộ. Ta có thể nói rằng chính những thương gia Ấn Ðộ đã trước tiên đem Phật giáo vào nước ta”[4]. Những thương gia này lúc đầu họ không phải là những nhà truyền giáo, mà mục đích của họ là đến để buôn bán chứ không phải là để truyền đạo. Khi họ ở lại thì họ thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh và cho dân bản xứ những tượng Phật nho nhỏ mà họ mang theo. Thời ấy ông cha ta đã tiếp thu những điều hay cái mới lạ về canh nông, y thuật do họ chỉ bày, tất nhiên là cũng tỏ ra mến chuộng tôn giáo của họ.

Trong các chuyến đi xa nhiều tháng lênh đênh trên biển như vậy, các thương gia Ấn cũng thờ cúng và cầu nguyện đức Phật và các vị Bồ Tát hộ trì cho chuyến đi này được thuận buồn xuôi gió. Các thương gia này thường thờ đức Quán Thế Âm và đức Nhiên Ðăng, vì hai vị này nổi tiếng là những vị che chở cho họ được bình an ngoài biển khơi. Muốn cho lòng tin yên tâm hơn nên họ thỉnh theo thương thuyền một vị Tăng sĩ. “Chính những vị tăng sĩ đi theo thương thuyền này sẽ lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ”[5]. Tuy nhiên, những vị Tăng sĩ đi theo các thương thuyền Ấn Ðộ không phải chỉ mục đích giảng đạo và cầu nguyện cho các Phật tử trong thương thuyền. Ngoài ra “vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, khuynh hướng Phật giáo đại thừa đã nẩy nở tại Ấn Ðộ. Vào đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch, các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông Nam Ấn Ðộ dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo truyền bá vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật đại thừa; chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị Tăng sĩ đi theo với các thương thuyền về Ðông Nam Á. Trung tâm Phật Giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và Tăng sĩ Ấn Ðộ tới bằng đường biển và đường bộ, đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý. Ðạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Ðộ truyền sang trực tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống”[6].Từ những địa thế như vậy nên cho phép Việt Nam thông thương với Ấn Độ qua các con đường như:

Đường biển: “từ thời xa xưa trước công nguyên các thương nhân Ấn Độ đã giao thương với các nước Á Rập và các nước ven biển địa trung hải nhất là đế quốc La Mã, tiêu thụ rất nhiều vàng, ngọc, châu báu, trầm quế, lụa là…..Để có đủ hàng cung cấp cho thị trường phương Tây nên họ giong buồn theo gió Tây Nam đi về vùng Đông Á, đến Mã Lai quần đảo Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển đông đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản”[7].

Đường bộ: thì rất nhiều, tuy rất vất vả và khó khăn hơn. “Trước là con đường đi vòng qua eo biển Malacca xa về phía Nam, các thương nhân Ấn Độ chuyển hàng qua eo đất Kra và bán đảo Mãlai theo những đường bộ tiện lợi có thể vượt qua vài giờ nối liền biển này biển nọ. Tại tuyến đường này các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều đồ cổ vật quý báu của niền văn minh ấn Độ thời xưa”[8]. Ngoài ra con nhiều đường khác như Mênan với sông Mêkong, ngang qua cao nguyên Koat, Siep và thung lũng sông Mun, tuyến đường này dẫn đến vùng Bassak, ở trung lưu sông Mêkong, địa bàn của vương quốc Kambujas, vương quốc này có thể do di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên.

Như vậy, “Phật giáo truyền đến Việt Nam vào khoản đầu công nguyên, lúc này nước ta đang nội thuộc Trung Quốc, xã hội phân chia hai giai cấp, tầng lớp trên là quan lại Trung Quốc, tầng lớp dưới là thuộc viên người Việt. Họ mang thế giới quan Nho giáo và phương thuật phương Bắc, còn từng lớp là những người nông dân bản xứ trồng lúa nước. Họ tin sức mạnh của ông Trời ở trên cao có thể  khuyến thiện trừng ác, tin ở các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa,  sấm, chớp, núi, sông đều là những vị thần có thể phù trợ con người, hay gây cho con người những tai họa. Cả hai lớp này đều cảm thấy xa lạ khi Phật giáo truyền vào, nhưng Phật giáo không mâu thuẫn với các tín ngưỡng sẵn có, không những vậy nó còn đem lại cho đương thời những giải thích mới mẻ về nỗi khổ của con người, về nguyên nhân của khổ đau, về con đường thoát khổ, là những dây dứt đã từng làm khổ con người trong bao nhiêu đời, đồng thời nó kêu gọi lòng từ bi hỷ xả, một chủ trương đáp ứng được lòng mong muốn của con người vốn nhiều rủi ro và lắm tai họa lúc bấy giờ. Vì vậy nó nhanh chóng tìm chổ đứng và có điều kiện bám rể chắc chắn trên mảnh đất này.

  1. 2.      SINH HOẠT PHẬT GIÁO XỨ GIAO CHÂU THỜI MỚI DU NHẬP

Như ta đã biết, đạo Phật đầu tiên do các thương gia Ấn Ðộ đem đến. Những người này không phải là những nhà truyền giáo; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu, chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. Sinh hoạt của Phật tử Ấn Ðộ thời ấy thế nào? Họ đọc ba điều quy y, giữ tam quy, tin tưởng ở Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Họ giữ ngũ giới: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Họ tin ở thuyết nhân quả; vì vậy họ lo bố thí cúng dường, nhất là cúng dường ẩm thực, y phục và chỗ cư ngụ cho Tăng sĩ, bởi vì Tăng sĩ là “ruộng phước đức tốt nhất” để gieo hạt giống công đức, họ còn thờ phụng Xá-Lợi-Phật, đốt hương trầm, đọc thuộc vài đoạn kinh nhân quả, kể chuyện tiền thân của Ðức Phật.

Cho nên người Giao Châu hồi ấy họ được các vị thầy truyền đạo và bảo rằng: “Ông trời ở trên cao, có thể nhìn thấu mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ ác, biết giúp đỡ kẻ làm lành. Tuy nhiên Ông trời không phải là đấng tạo hóa nên mọi vật, nhất là không phải vị thần của nhất thần giáo. Ông trời có những thuộc hạ gần và xa. Gần thì có ông Sấm, mụ Sét. Xa thì có Sơn Tinh, Thủy Tinh, thần núi Tản Viên, thần cây Ða, ông Táo, ông Ðịa… Linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác chết, và có thể ở chung quanh người thân thích còn sống một thời gian để che chở bảo”[9]. Điều đó rất phù hợp với cư dân bản địa. Ngoài ra còn có những quan niệm về đạo lý sống phù hợp với người Việt như “thuyết nhân quả nghiệp báo, ông Trời trừng trị kẻ ác, giúp đỡ người hiền rồi quan niệm về luân hồi thì phù hợp với các ý niệm linh hồn tồn tại sau khi chết”[10]. Không dần ở đó nó còn bản địa hóa hoàn toàn khi mà con người Việt Nam bấy giờ, sống dựa trên nền tảng xã hội nông nghiệp trồng lúa nước, ngoài những yếu tố cần cù lao động con người còn “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Để cày cấy và sinh tồn và cụ thể hóa “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Vì vậy thần trong thần điện của người Việt tất nhiên là thần Mây (Vân), thần Mưa (Vũ), thần Sấm (Lôi), thần Chớp (Điện). Nên trong tâm thức của mỗi người dân lúc bấy giờ những yếu tố đó mới phục vụ cho việc nông nghiệp trồng lúa nước. Hình ảnh Phật điện được cụ thể hóa thành Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện, được tôn thờ trong bốn ngôi chùa trùng tên”[11]. Ngoài ra lúc này ở “trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã xây dựng hơn 20 bảo tháp độ được hơn 500 vị tăng và dịch hơn 15 bộ kinh”[12]. Như vậy đây là con số mà chúng ta chưa xát định được, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng tại trung tâm Luy Lâu này, sự sinh hoạt Phật giáo rất thịnh hành và số tín đồ theo đạo Phật nhiều vô số kể. cho nên mới có “chuyện trong Tăng sĩ có kẻ nghiện rượi, ăn thịt, có vợ con….”[13].

2.1.           Giới  thiệu tác giả tác phẩm Lý hoặc Luận

“Mâu Tử tên thật là Mâu Bác là người Hán sinh khoảng năm 165 -170 ở Thương Ngô, vùng Lưỡng Quảng, nay thuộc Trung Hoa. “Ông mất vào khoản năm 220-230”[14].  Ông là người Trung Hoa nhưng vẫn theo Lão giáo, sau khi theo mẹ qua Giao Châu để lánh nạn, năm ông 26 tuổi về Thương Ngô cưới vợ. Ông là người hâm mộ đạo Phật ở Giao Châu và trở thành một Phật tử thuần thành, về già ông trở lại Trung Hoa. Mâu Bác là người Trung Hoa đầu tiên có trước tác về Phật giáo Lý Hoặc Luận”, “sách này được viếc khoản năm 195 sau khi cư tang mẹ xong”[15]. Cuốn này là tác phẩm rất nổi tiểng của ông, sách này thể hiện về vấn đáp, hình thức này là một thề đề tài mà các luận sư Phật giáo Ấn độ dùng để truyền giáo lý nhà Phật, vào thời kỳ được gọi là thời kỳ Phật giáo bộ phái, tức khoản 200 năm sau khi Phật nhập niết bàn.

Đầu đề cuốn sách là “lý hoặc luận” lý là xử lý giải quyết, hoặc là những điều mê hoặc, sai lầm. “Lý hoặc luận” là một bộ luận xử lý, giải quyết những điều mê hoặc sai lầm của một số người đương thời đối với đạo Phật, cuốn sách còn giữ lại trong bộ Hoằng Minh Tập do Ngài Tăng Hựu sưu tập và ấn hành vào thế kỷ VI Tây lịch”[16]. Mâu Tử lúc nhỏ nỗi danh là người học giỏi, đọc nhiều sách, sống vào thời vua Hán Linh Đế. “Vì vậy mà sau khi mẹ chết, Mâu Tử Từ chối việc đi Linh Lăng và Quế Dương theo yêu cầu của Thái Thú Giao Châu sau đó bèn mài chí học đạo Phật cùng nghiên cứu Lão giáo, lấy huyền diệu làm rượi ngon, lấy ngũ kinh làm đàn sáo, người thế tục họ không biết cho rằng Mâu Tử đã phản lại ngũ kinh, đi theo dị đạo. Thực ra nếu mở miệng tranh luận với họ thì cũng là phi đạo, mà im lặng cũng như bất lực, bèn dùng bút mực, lược dùng lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghỉ, đó gọi là Mâu Tử Lý Hoặc Luận”[17].

2.2.           Cuộc tranh luận của giới trí thức Nho giáo và Lão giáo đối với Phật giáo

Về mặt nội dung, Lý Hoặc Luận là một luận thuyết triết lý, lý giải những điều mê lầm của một số người không hiểu đạo Phật. Bộ luận này gồm 37 câu hỏi và vấn đáp. Từ câu 1 đến 28 là những vấn nạn của người theo Khổng hỏi vầ Phật, từ câu 29 về sau là những vấn nạn của người theo Lão. Xin được tóm lược nội dung như sau:

Câu 1, 2: Giải thích về Phật. Mâu Tử cho rằng Phật không phải là nhân vật lịch sử thường tình mà là bậc thầy siêu nhân, thần thông, biến hóa.

Câu 3, 4: Nêu cao tính cao siêu huyền diệu của đạo phật mà với tư duy và ngôn ngữ thế gian, con người khó lòng thấu đạt.

Câu 5: Kinh sách Phật có vạn quyển trong lúc Khổng Tử chỉ có Tứ Thư, Ngũ kinh.

Câu 6, 7, 8, 9, 10: Bài bác tưu tưởng hẹp hòi của Khổng giáo. Người đi tu cạo bỏ râu tóc, thoát ly gia đình, lìa bỏ tài sản. Theo Khổng, trong ba tội bất hiếu, bất hiếu không có con nối dõi là tội bất hiếu lớn nhất. Phật quan niệm rằng, cái nhiễm là gốc của sinh tử. Lìa ái dục để giải thoát, bỏ sinh tử. Lìa ái dục để giải thoát, bỏ sinh diệt để đạt bất diệt. Hiếu đạo không chỉ bó hẹp giới hạn trong việc thừa kế.

Câu 11, 12: Giải đáp cách ăn mặc của tăng sĩ. Người tu hành không được theo các tập quán sang trọng của thế gian. Cần mặc vải thô xấu, phải ăn ngủ nghĩ không đầy đủ, có tri túc và thường túc thì mới có phẩm hạnh. Quy định bấy giờ tăng sĩ mặc cà sa đỏ và khi tiếp xúc với người không quy lụy, săn đón.

Câu 13, 14: Giải đáp thuyết tái sinh của Phật, đả kích tà ma quỷ thần, linh hồn bất tử của Khổng giáo. Câu 14 còn phê phán tư tưởng Đại Hán, tư tưởng này cho rằng các giống dân ngoài người Hạ đều là Di, Địch, mọi rợ. Mâu Tử khẳng định Trung Quốc chưa chắc là trung tâm của trời đất.

Câu 15, 16: Trình bày thuyết lý theo pháp chứ không theo người. Không nên vì có Tăng sĩ có vợ con, rượu chè, dối trá mà cho rằng đạo Phật là xấu. Không nên thấy hiện tượng mà cho là bản chất.

Câu 17-20: Nêu những đức hạnh và thể thức thực hành của Phật giáo: bố thí, giảng dạy bằng thí dụ hình ảnh.

Câu 21: Xác định Phật giáo vào Trung Quốc thời Hán Minh Đế (năm 68)

Câu 22-28: So sánh Phật với Khổng, lão. Mâu Bác cho rằng Khổng, Lão như hang, khe, bó đuốc, hoa lá; còn Phật như mặt trời, là quả trái thơm ngon.

Câu 29-37: Đả kích Lão, Tử, Đạo giáo. Mâu Bác cho rằng các phép “Thanh Đàm”, “tịch cốc”, “luyện thuốc trường sinh” là do các Đạo gia bịa đặt. Lão Tử không có chủ trương như thế, vì ông đã nói “Trời đất không tồn tại lâu dài, hướng hồ là con người”.

Như vậy, Lý hoặc luận là một tác phẩm luận thuyết về Phật học nổi tiếng, có giá trị nội dung lớn. Qua lập luận của Mâu Bác, tác phẩm đã dùng lời lẽ Nho Lão đả kích Nho Lão, xiển dương Phật giáo, làm  cho ảnh hưởng của Khổng Lão bị lung lay. Đặc biệt tuy bản thân là người Hán nhưng học Phật và sống ở Việt Nam nên kịch lên phê phán tư tưởng Đại Hán ở câu 14 “Hán địa vị tất vi thiên trung”.

  1. 3.      NHỮNG QUAN ĐIỂM CHÍNH THỐNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỂ TRẢ LỜI  NHỮNG NGHI HOẠT CỦA NHO VÀ LÃO GIÁO

3.1.           Quan niệm về Phật

Như chúng ta đã biết, Mâu Tử là người rất giỏi và vô cùng thông minh, khéo léo khi có những quan niệm về Phật: “Bụt (hay Bụt Ðà) như một đấng có phép thần thông, nghe biết hết mọi chuyện trên đời như ông Trời, nhưng không ở trên cao nhìn xuống như ông Trời, mà rất thân cận vơi con người. Bụt có thể hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu giúp người, giúp đời, nhất là những người có lòng tốt bị nhiều điều oan ức. Bụt rất thương người, cứu giúp người hiền, nhưng khác với ông Trời là không hành phạt kẻ ác. Bụt không bị nước trôi, lửa cháy, vì Bụt có phép thần thông và biến hiện”[18]. Như vậy trong thời buổi Phật giáo mới du nhập đã xuất hiện tư tưởng bát nhã rồi.

Ngoài ra Phật cũng có những quan điển nữa là: Phật là nguyên Tổ của Ðạo và Ðức, nguồn gốc của thần minh. Phật nghĩa là thức tỉnh. Ngài có thể biến hóa không cùng, phân thân tán thể, khi có đó, không đó, khi lớn khi nhỏ, khi vuông khi tròn, khi già khi trẻ, khi ẩn khi hiện, lửa không đốt được, trong bùn không nhiễm, giữa họa mà không bị tai ương, khi đi có thể bay, khi ngồi hào quang sáng chói. Ðó gọi là Phật.

3.2.           Quan niệm về Pháp

Quan niệm về Pháp: “Phép Bụt ở đây có thể là những phép biến hiện thần thông của Phật để cứu đời giúp người. Phép Bụt cũng là những điều người ta làm cho nếu người ta tin Bụt, như đọc ba câu tam quy, ban đầu thì bằng Phạn ngữ, giống như đọc thần chú, để tỏ lòng quy kính Bụt mà cũng để Bụt che chở (Buddham Saranam gacchami, Dharmam Saranam gacchami, Sangham Saranam gacchami). Còn có việc cúng dường tăng sĩ, bố thí người nghèo, cho kẻ đói ăn. Phép của Bụt cũng là tin ở nghiệp báo, luân hồi và linh hồn bất diệt”[19]. Ngoài ra Mâu Tử còn nêu những giáo lý căn bản để trả lời nhằm tới người theo Lão Khổng. Ðối với quần chúng Phật tử, Ðạo vẫn là phép Phật, là phép Tam Quy, Ngũ Giới, Bố Thì và cúng Dường. Ðối với giới Tăng đồ, Ðạo là lời Phật dạy về vô thường, vô ngã, giới luật, cách giữ tâm, gìn ý và tu chứng niết bàn (vô vi)”[20].

3.3.           Quan niệm về Tăng

Quan niệm về Tăng: “như một đoàn thể tu tập nghiêm trì 250 giới luật, cạo đầu, mặc áo vàng, xả bỏ tài sản, đời sống ly gia, đi khất thực và hóa đạo, nhằm tới sự chứng nhập vô vi: đó là hình ảnh của người xuất gia”[21]. Là một vị Tăng thật thụ.

3.4.           Quan niệm về Hiếu Hạnh

Quan niệm về Hiếu hạnh rất rỏ ràng: “Nếu làm việc đức lớn, thì không câu nệ tiểu tiết. Cũng như cha mẹ ngã xuống nước thì cứu cha mẹ ra khỏi chết đuối là đức lớn, còn nắm chân kéo tay, dốc đầu cha để nước trong bụng cha chảy ra hết để cứu cha khỏi chết, tất cả chuyện đó là tiểu tiết”[22]. Vậy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát nói về quan niệm của Mâu Tử này như sau: “Thái Bá cắt tóc, vẽ mình, tự theo tục của Ngô việt, trái với nghĩa thân thể tóc da; vậy mà Khổng Tử ca tụng, cho có thể gọi là chí đức. Dự Nhượng nuốt than, sơn mình. Nhiếp Chính lột mặt, tự vẫn. Bá Cơ dẫm lửa, hạnh cao cắt mặt. Quân tử cho là dũng và chết vì nghĩa. không nghe ai chê là tự hủy hết”[23].

3.5.           Quan niệm về sự sinh hoạt Tăng già thời bấy giờ

Quan niệm về sự sinh hoạt chư tăng lúc này rất rỏ ràng: Một phần là tự độ và độ tha, biết thực hành sự bố thí cúng dừơng. Chư Tăng còn cứu người những lúc bệnh nặng, giúp họ lúc gặp nguy nan, giúp họ giữ vựng tín nguỡng tâm linh, còn thể hiện qua cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra “Tăng là ngừơi xuất thế, không đam mê danh lợi, tài sắc thế gian, cho nên cách ứng xử, lối phục sức cũng phải biểu trưng cho tư tưởng xuất thế đó”[24]. Chư Tăng còn ăn chay và không sát sanh, giữ trọn ngũ giới cấm.

 

 

 

C/ KẾT LUẬN

Như vậy, Phật giáo du nhập vào Việt Nam ở thế kỷ thứ nhất, trực tiếp từ Ấn Độ, điều đó là nền tảng cho phép sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam vào những thế kỷ sau. Phật giáo Việt Nam đã có sự giao tiếp với Phật giáo Trung Hoa ngay sau đó và có sự tiếp nhận những thâm nhập mới. Trong giai đoạn đầu du nhập, Phật giáo Việt Nam đã dần dần tự hình thành nên một tư tưởng mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt. Tình hình đó đã để lại dấu ấn trong các giai đoạn phát triển của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Rỏ ràng đó là một cơ sở tạo nên nét đặc thù riêng của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sở dĩ mà Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam một cách dễ dàng và nhanh chóng bám sâu tạo nên một nước văn minh như vậy, là do tinh thần cởi mở không giáo điều của đạo Phật, một phần là nhờ ông cha ta biết cách chọn lọc và chịu học những cái hay tinh túy nhất để làm nên Phật giáo Việt Nam ngày nay.

Đạo Phật thâm nhập vào đời sống tín ngưỡng dân gian ở Giao Chỉ một cách tự nhiên như nước thấm vào lòng đất, không gặp phản ứng và trở ngại gì, bởi lẽ những tín ngưỡng dân gian không chống đối lại những tín ngưỡng cơ bản của đạo Phật. Cho đến ngày nay mặc dù đạo Phật đã trải qua bao sự biến đổi thăng trầm của lịch sử, thời gian đến nay gần 26 thế kỷ hiện diện trên đất nước Việt Nam này. Đạo Phật đã mật thiết hòa mình trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, không những vậy đạo Phật còn đồng hành với dân tộc Việt Nam cho đến bây giờ và mãi mãi về sau.

Đó cũng là nền tảng cho sự thâm nhập các thiền phái Phật giáo như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển của Phật giáo trong những thời kỳ lịch sử này, với tinh thần nhập thế thể hiện ở những mức độ khác nhau, không hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi, Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, và cả đối với những tư tưởng giáo lý khác.

Đối với bản thân, đã xây dựng cho mình một tư tưởng Phật giáo, một giáo hội Phật giáo Việt Nam độc lập, mang bản sắc riêng, và lớn hơn thế nữa, nó còn tạo nên bản sắc văn hóa, tạo nên bản sắc của dân tộc ta khi đó.

 

 

 


[1]TS. T Phước Đạt (Bài viết) Phật giáo Việt Nam trong qua trình tiếp biến và hội nhập.

[2] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr. 12.

[3] Nguyễn Hiền Đức, Tài liệu Học Viện Phật giáo Việt Nam, Sơ lược lịch sử Phật giáo Việt Nam, tr 7.

[4] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008, Tr. 25.

[5] Sđd Tr. 25.

[6] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008, Tr. 26.

[7] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr. 13.

[8] Sđd, Tr. 19-20.

 

[9] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008, Tr. 44.

[10] TS. T Phước Đạt (Bài viết) Phật giáo Việt Nam trong qua trình tiếp biến và hội nhập.

[11] Đd.

[12] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr. 31.

[13] Sđd, Tr. 62.

[14] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, Tr. 271.

[15] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006, Tr. 272.

[16] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr 53.

[17] Sđd, Tr 56.

 

[18] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008, Tr. 48.

[19] Sđd, Tr. 48.

[20] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb Văn Học Hà Nội, 2008, Tr. 64.

[21] Sđd, Tr. 65.

[22] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr 58.

[23] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Tổng Hợp Tp. HCM, 2006, Tr. 52.

[24] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1989, Tr. 58.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s