Đặc Tính Nhân Bản Của Đạo Phật Qua Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – Thích Trí Hải

DÀN BÀI
A. DẪN NHẬP:
B. NỘI DUNG:
I. Khái quát về tính nhân bản trong đạo Phật
1. Định nghĩa nhân bản
2. Đạo Phật, con đường đưa đến sự giác ngộ và giải thoát
II. Lịch sử thái tử Siddhattha từ đản sanh đến xuất gia
1. Huyền sử
2. Xuất thân của thái tử Siddhattha
a. Niên đại và thân thế
b. Tuổi thọ
3. Tính nhân bản qua đời sống của thái tử trước khi xuất gia
a. Đời sống và giáo dục
b. Tiếp xúc khổ đau nhân thế
c. Sự từ bỏ vĩ đại
III. Tiến trình tu học với những vị đạo sư danh tiếng đương thời
1. Alara Kalama
2. Uddaka Ramaputta
3. Năm anh em ông Kodanna
IV. Đặc tính nhân bản qua sự giáo hóa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni
1. Thành lập giáo đoàn
a. Thành lập Tăng đoàn
b. Thành lập Ni đoàn
2. Kỷ nữ Ambapali
3. Độ Angulimàla (Vô Não)
4. Trọng tâm giáo hóa của đức Thế Tôn
5. Tính nhân bản qua lời dạy của Ngài
C. KẾT LUẬN
 
A. DẪN NHẬP:
Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 2.500 năm tại xứ Ấn Độ, cuộc sống con người bất bình đẳng do sự phân chia giai cấp. Sự áp bức chèn ép của giai cấp trên đối với giai cấp dưới đã gây ra biết bao điều thống khổ. Trong bối cảnh đầy hơn thua tranh chấp, đầy dẫy sự bất công ấy, đức Phật đã sanh ra nơi đời với mục đích chỉ rõ sự thật về con người và cuộc đời. Ngài đã tuyên bố với nhân loại rằng: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn ”, “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ngài là vị đạo sư vĩ đại, là một nhà giáo dục tài ba, là một vị đại lương y chữa lành mọi căn bệnh phiền não của chúng sanh. Với tuệ giác vô thượng của Ngài đã khai sáng mở ra một chân trời mới, xóa bỏ mọi giai cấp bóc lột đương thời.
Đức Phật sanh ra là một con người, Ngài sống và lớn lên như bao nhiêu người khác. Cuộc đời của Ngài đã nói lên đặc tính nhân bản rõ nét mà sử sách đã ghi lại. Như vậy, tính nhân bản là gì? Đặc tính nhân bản nào được thể hiện qua cuộc đời của Ngài? Nhận thức được tầm quan trọng ấy nên người viết chọn đề tài “Đặc Tính Nhân Bản Của Đạo Phật Qua Lịch Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni” làm đề tài nghiên cứu.
Đề tài xoay quanh cuộc đời Đức Phật từ đản sanh, thành đạo và giáo hóa cho đến ngày nhập Niết bàn. Qua đó góp phần minh thị rằng đạo Phật là đạo như thật, là đạo nhập thế tích cực, tuyệt đối không phải là một tôn giáo theo nghĩa giáo điều mà là đạo của trí tuệ, của tình thương rộng lớn, đem lại cho con người cuộc sống đạo đức tâm linh cao cả, cuộc sống trong sáng, thanh tịnh và đầy lòng bao dung.
Để hiểu thêm về tính nhân bản qua cuộc đời của Đức Phật, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, liệt kê, tổng hợp, phân tích, giải thích để làm rõ vấn đề và được trình bày như dưới đây.
B. NỘI DUNG:
I. Khái quát về tính nhân bản trong đạo Phật:
1. Định nghĩa nhân bản:
Nhân là người, liên quan đến con người; bản là gốc. Tính “nhân bản” là tính cách liên quan đến con người, xoay quanh con người, lấy con người làm gốc và trong giá trị đích thực của xã hội thì vai trò của con người được đề cao. Tính cách nhân bản của đạo Phật là làm cho con người trở nên “người” hơn, phát huy tất cả mọi tính người cao đẹp, thải trừ mọi khả năng thấp kém và hèn hạ.
Đức Phật không hề tự xưng là hiện thân của thần Vishnu, một thần linh Ấn Độ giáo mà kinh Bhagavadgita[1] đã ca ngợi một cách huyền diệu, sanh ra để bảo vệ sự chân chánh, tiêu diệt tội lỗi và để thiết lập và củng cố đạo lý (Dharma).
Đức Phật cũng không bao giờ tự gọi là “đấng cứu thế” có quyền năng cứu vớt kẻ khác bằng chính sự cứu rỗi của mình. Thượng đế không ban phát gì cả, thần linh không đặt để và không một thế lực nào bên ngoài nào có thể tạo ra sức mạnh, uy quyền, sự cao thấp cho người khác; không có một quyền năng siêu nhiên nào có thể mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho loài người. “Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm và chỉ có ta làm cho ta trong sạch” và “chỉ có ta làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ”, tất cả đều do tâm sinh khởi ra ý niệm khiến cho chúng ta có thể hài lòng hoặc bất mãn với cuộc sống này. Ngài thiết tha kêu gọi những ai hoan hỷ bước theo dấu chân Ngài không nên ỷ lại nơi người khác mà phải tự mình giải thoát lấy mình, bởi vì trong sạch và bợn nhơ, cũng đều tùy thuộc nơi chính mình. Ngài không thể trực tiếp làm cho ai trong sạch hay ô nhiễm:
“Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.” [2]
Trong thời Ngài còn tại thế, Đức Phật chắc chắn được hàng tín đồ hết lòng tôn kính, nhưng không bao giờ Ngài tự xưng mình là một vị thần linh ban phước hay giáng họa. Đức Phật là một người như chúng ta, Ngài sanh ra là một người, sống như một người, và từ giã cõi đời như một người. Đức Phật đã ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài để chúng ta lầm hiểu rằng Ngài là một nhân vật vô sanh bất diệt.
2. Đạo Phật, con đường đưa đến sự giác ngộ và giải thoát:
Vị Giáo chủ sáng lập ra đạo Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkyàmuni). Tên chính của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhàtha). Cù Đàm nghĩa là Giác Giả (Budha), hay là Thế Tôn (Bhagavat). Giác Giả và Thế Tôn là danh hiệu tôn xưng về đức độ của Ngài.
Phật-đà, (Buddha) không phải là tên riêng. Đó là một quả vị, có nghĩa là người Giác ngộ (Giác giả), người Tỉnh thức, hoặc là người Biết như thật. Chữ “Phật” không chỉ danh một ngôi vị thánh linh cao cả do con người sợ hãi vì yếu đuối, bất lực trước những sức mạnh của thiên nhiên và những bất công của xã hội, nên tự nhiên nghĩ tưởng phải có một đấng toàn năng ngự trị nơi cao để nương tựa, để thờ phượng, để cầu xin.
Trên 2500 năm về trước, Đức Phật đã dạy những chân lý Vô thường (anicca), Khổ (dukkha) và Vô ngã (anatta). Giáo huấn mà Đức Phật truyền dạy, dù có tánh cách luân lý hay triết lý, là để học hỏi, thực hành và chứng ngộ bằng trí tuệ trực giác, giáo Pháp như chiếc bè đưa ta qua đại dương của cuộc sống.
Trong Phật Giáo không có thần linh vạn năng, bắt buộc tín đồ phải sợ hãi cúi đầu vâng lệnh. Phật giáo phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, quan niệm như chúng sanh toàn năng hay có năng lực vô cùng tận. Không có tánh cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những lời sám của một Thần Linh từ đâu trên cao ban xuống đến cho con người. Phật giáo không phải là một tôn giáo như vậy. Đạo Phật trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, từng chịu biết bao thử thách của thời gian mà vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Như thế Phật giáo luôn luôn tiềm tàng những chân lý vượt thời gian và không gian, phù hợp với mọi căn cơ của chúng sanh và đáp ứng được những nhu cầu thiết thực qua mọi thời đại.
II. Lịch sử thái tử Siddhattha từ đản sanh đến xuất gia:
1. Huyền sử:
Đức Thế Tôn giáng sanh tại xứ Trung Ấn Độ, vua trị vì là Suddhodana (Tịnh Phạn)[3], hoàng hậu Màyà (Ma Da)[4], thuộc dòng dõi vua chúa lâu đời.[5]
Hoàng hậu Maya trong lúc ngủ đã thấy một điềm chiêm bao. Trong giấc mộng hoàng hậu thấy một luồng ánh sáng rực rỡ từ trên trời chiếu xuống nơi bà, và trong luồng ánh sáng đó có hình ảnh một con voi to lớn. Voi màu trắng bạch và có sáu ngà. Con voi ánh sáng này bay mỗi lúc mỗi tiến lại gần hoàng hậu, cuối cùng hòa nhập vào trong thân thể của bà và từ đó hoàng hậu mang thai. Theo phong tục thuở xưa, người phụ nữ trở về quê cha mẹ để sinh đứa con đầu lòng. Cho nên vào lúc sắp sinh thái tử, hoàng hậu Maya cùng với các bạn bè và những người hầu cận đã rời hoàng cung để bắt đầu lên đường trở về quê. Ngang qua vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni)[6], hoàng hậu dừng lại dạo chơi khắp vườn và lần tới cội cây Vô Ưu (Asoka), ngước mắt nhìn lên, đưa cánh tay mặt vin cánh cây. Khi ấy, ánh sáng rực rở bốn bề, cõi đất rung động, thái tử đản sanh bên hông phải của hoàng hậu.
Khi Đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: Đồng tử này rấy kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại oai thần. Khi mớ sanh ra Ngài liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương, từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một ấm, một lạnh, để tắm thân thể của Thế Tôn. [7]
2. Xuất thân của thái tử Siddhattha:
a. Niên đại và thân thế:
Đối với niên đại đản sinh, diệt độ của đức Phật, có rất nhiều thuyết, thậm chí đến sáu, bảy mươi thuyết khác nhau. Trong số đó, có những thuyết chênh lệch nhau hơn 400 năm, nên niên đại sinh diệt của Ngài là vấn đề khá phức tạp và rối rắm. Nay, chúng tôi chỉ căn cứ vào kết quả khảo chứng về niên đại nhập diệt của đức Phật trong hai hệ Nam truyền và Bắc truyền để đưa ra những nhận định chung nhất.
Theo Thiện Kiến luật Tỳ-bà-sa[8] ghi đức Phật nhập diệt năm 479 trước kỷ nguyên.
Truyền thống Nguyên Thủy cho rằng đức Phật nhập diệt vào năm 544 trước Công nguyên.
Theo truyền thuyết của Tích Lan, thì kỷ nguyên Phật nhập diệt là trước Công nguyên 543 đến 544 năm.
Theo Chúng Thánh điểm ký (điểm sử ký- dotted record) xác định năm 486, nếu tính ngược lại 80 năm thì niên đại đức Phật đản sinh là năm 566 B.C.[9]
Hiện nay tại đại hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ ba đã thông qua kỷ nguyên Phật nhập diệt là năm 544 B.C, và lấy đó làm nguyên niên. Điều này được căn cứ vào văn bia hiện còn lưu giữ tại Udayagiri (Ưu Đàm Da Kỳ Lợi) của một vị vua nước Kakinga (Yết Lăng Già) thuộc nam Ấn có tên là Sirikharavela Maha Meghavàhana (Ca La Tỳ La).
Thái tử Siddhattha (Tất Đạt Đa), thân phụ là vua Suddhodana (Tịnh Phạn), hoàng hậu Màyà (Ma Da), dòng dõi Sakya (Thích Ca), giai cấp Khuttya (Sát Đế Lợi), kinh đô Kapilavasthu (Ca Tỳ La Vệ), thuộc xứ Nepal Đông Bắc Ấn Độ.[10]
Sở dĩ có nhiều niên đại khác nhau là do hoàn cảnh khách quan xã hội Ấn Độ không chú trọng đến việc ghi lại lịch sử. Từ thế kỷ IX-XIII, Hồi giáo xâm chiếm Ấn Độ, tàn phá, thiêu hủy chùa tháp và kinh sách Phật giáo khiến cho sử sách có sự chênh lệch về niên đại.Từ đó cho chúng ta thấy đức Phật sanh ra như một con người, Ngài cũng có Cha, có Mẹ, có quê hương và niên đại lịch sử, không phải là một vị thánh siêu phàm có quyền năng ban phước hay giáng họa.
b. Tuổi thọ:
            Trong kinh Niết Bàn (bản văn phạn ngữ Tây Tạng) Phật dạy: “Này Subhadda, lúc hai mươi chín tuổi, ta xin xuất gia tìm cầu chánh pháp, từ khi xuất gia đến nay đã được năm mươi mốt năm”[11]. Như vậy đức Thế tôn thọ 80 tuổi. Tuy có nhiều niên đại khác nhau về niên đại đản sinh nhưng sách sử cả hai hệ thống Nam truyền và Bắc truyền Phật giáo đều cho rằng đức Phật thọ 80 tuổi. Hai bộ sử lớn được nhiều học giả và giới trí thức tin tưởng như Đảo sử (Dipa vamsa) và Đại sử (Maha vamsa) cũng cho rằng đức Thế Tôn thọ 80 tuổi.[12]
3. Tính nhân bản qua đời sống của thái tử trước khi xuất gia:
a. Đời sống và giáo dục:
Thái tử Siddhattha được nuôi nấng và dạy dỗ một cách toàn diện cả hai lãnh vực văn chương và võ thuật; những thầy giáo giỏi nhất trong nước được mời đến hoàng cung để dạy cho thái tử các môn học như: Sabdavidya (Thanh minh – ngôn ngữ văn học), Silpasthana-vidya (Công xảo minh – công kỹ nghệ học), Cikitsavidya (Y phương minh – y học), Hetuvidya (Nhân minh – luận lý học) và Adhyatmatidya (Nội minh – đạo học); chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên.
Về đạo học, thái tử đã được học 4 thánh điển Veda. Những Ðạo-sĩ thông thái, những võ sĩ tài danh điều được vua Suddhodana mời đến dạy cho thái tử; và chẳng bao lâu thái tử đã trở thành một vị văn võ toàn tài, không ai sánh kịp. Với một tư chất đặc biệt, thái tử đã làm cho hai danh sư nổi tiếng về võ là Ksantidiva (Sằn Đề Đề Bà) và về văn là Visvàmistra (Tỳ Sa Mật Đa La) phải cúi đầu thán phục.[13]
Cùng một nhịp với tài-năng, đức-độ của Ngài cũng được phát triển một cách vô cùng nhanh chóng và sâu rộng. Tình thương của Ngài lan tràn, bao phủ tất cả mọi vật mọi người. Càng lớn lên thái tử càng lộ vẻ trầm tư về cuộc sống, bản tính hiền lành và đầy lòng từ bi. Thái tử thương yêu những con vật nhỏ, không bao giờ sát hại chúng. Khi Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða), anh em bà con với thái tử bắn con chim, Ngài liền chạy đến rút mũi tên ra và chăm sóc cho nó.
Trong kinh Tăng Chi Bộ I diễn tả về đời sống của Ngài như sau:
“Này các Tỷ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỳ kheo, là không từ Kasi đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, này các Tỳ kheo, bằng vải Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỳ kheo, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta.” [14]
b. Tiếp xúc khổ đau nhân thế:
Mặc dù sống trong hoàng cung xa hoa lộng lẫy như vậy, nhưng hoài bảo về kiếp người, nỗi ưu tư về cuộc sống vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí của Ngài. Do năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người vô hạn vô biên, thái tử lại rơi vào tình trạng trầm tư lo lắng, luôn cảm thấy lòng mình nặng trĩu bao nỗi băn khoăn thắc mắc. Được phép vua cha, thái tử lần đầu tiên được ra khỏi cung vàng điện ngọc và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Lần lượt ra bốn cửa thành của hoàng cung, Ngài chứng kiến những sự thật đen tối và đáng sợ. Một cụ già chân mỏi, gối dùn; một người bệnh hoạn quằn quại; một thây ma hôi thối và một đạo sĩ ly dục nghiêm trang, tất cả đã làm cho tâm tư thái tử dao động đến cực độ. Ngài càng nhận chân rằng tất cả những lạc thú, hạnh phúc mà mình đang thọ hưởng đều mang tính giả tạm vô thường. Thái tử Siddhattha quyết định thoát khỏi ngục vàng, tìm ra một lối thoát, một cuộc sống chân thật có ý nghĩa và cao đẹp hơn; một con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người và hướng đến an lạc.
c. Sự từ bỏ vĩ đại:
Vua Tịnh-Phạn lo lắng về thái tử sẽ đi xuất gia nên bày đủ trò đàn ca múa hát bao vây lấy thái tử và còn cưới Yasodhara (Da-Du-Ðà-La) cho Ngài làm vợ nhưng Thái-Tử vẫn không khuây nổi buồn của mình.
Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử nên Ngài quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Thế rồi vào một đêm Ngài và người nô bộc trung thành là Channa (Xa nặc) dắt con ngựa Kantaka (Kiền trắc) lặng lẽ ra đi. Trước khi ra đi, thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Yasodhara (Da du đà la) và người con trai đang ngủ thiếp, thái tử hé cửa nhìn vào. Ngài rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó Ngài một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau chỉ có người nô bộc trung thành Channa. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn thì thái tử xuất gia năm 29 tuổi: “Này Subhadda, năm hai mươi chín tuổi, ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.”[15]
Thái tử trăn trở suy tư và quyết định dứt khoát cắt đứt mọi sự ràng buộc gia đình, vợ con, ngôi vị. Chính điều này sau khi thành đạo Đức Phật đã nói lại:
            “Đời sống tại gia, nơi chứa đầy bất tịnh, thật là chật hẹp. Còn đời sống sa môn thì tự do như bầu trời khoáng đạt. Thật không dễ gì cho người gia chủ sống đời phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh và thánh thiện viên mãn. Giả sử nay cắt bỏ râu tóc, khoác áo sa môn, xuất gia từ giả gia đình, sống không gia đình?”
            “Khi ta đang trẻ là trang nam tử tóc còn đen nhánh ngay giữa tuổi xuân sanh, trong khoảng đầu thời hoa niên, ta cắt bỏ râu tóc, mặc dù cha mẹ ta phản đối việc này với mặt đầy nước mắt, ta vẫn khoát áo cà sa từ giả gia đình sống không gia đình”.[16]
Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị. Thái tử Siddhattha rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý giác ngộ giải thoát.Thái tử đã từ bỏ tất cả những gì mà chúng ta hằng mơ ước, nào cung vàng điện ngọc, nào vợ đẹp con ngoan để đi tìm hạnh phúc và bình an cho nhân loại. Ngài ghê sợ trước những khổ đau của trần thế, nhàm chán các thú vui dục lạc mà mọi kẻ khác đang mong tìm. Qua đó chúng ta thấy rõ đặc tính nhân bản, đầy tình thương và trí tuệ qua sự từ bỏ vĩ đại của Ngài.
III. Tiến trình tu học với những vị đạo sư danh tiếng đương thời:
1. Alara Kalama:
            Trước tiên Ngài học đạo với Alara Kalama, vị đạo sĩ chứng đắc Akincanyayatana samadhi (Vô Sở Hữu Xứ định), tại thành phố Vesali (Tỳ Xá Li)[17]. Đây là cấp độ cao về tâm linh, là thượng tầng tri thức trong xã hội Ấn Độ bấy giờ.
            Thái tử đã đạt được thiền này và Alara Kalama đã xác nhận: “Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy.[18] 
2. Uddaka Ramaputta:
            Vị đạo sư thứ hai là Uddaka Ramaputta, chứng được cấp thiền Nevasanna-nasannayatana samadhi (Phi tưởng phi phi tưởng xứ định), cảnh giới cao nhất của thiền Vô Sắc và là tri thức cao nhất của Ấn Độ thời bấy giờ. Thế nhưng Uddaka Ramaputta cũng khẳng định: “Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy.”[19]Thái tử vẫn không hài lòng về quả vị mà mình tu chứng nên Ngài tiếp tục ra đi.
3. Năm anh em ông Kodanna:
            Sau khi từ giả Uddaka Ramaputta, thái tử đi thẳng đến khu rừng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) thuộc Magadha (Ma Kiệt Đà) và tu tập khổ hạnh với năm anh em tôn giả : Kodanna (Kiều Trần Như), Vappa (Bà Phả), Bhaddhiya (Bà Đề), Mahanama (Ma Ha Nam) và Assaji (Thuyết Thị)[20]. Tại đây trong sáu năm liên tục Ngài thực hành khổ hạnh ép xác, chỉ còn da bọc lấy xương, đôi mắt sâu hoắm, không còn đi đứng được nữa.[21] Ngài nhận thấy việc khổ hạnh ép xác không đem lại lợi ích cho tiến trình tu tâp, không phải là phương pháp rốt ráo để thành đạo. Từ bỏ hai cực đoan khổ hạnh ép xác và hưởng thụ dục lạc, Ngài tìm đến cội cây Assattha (Tất Bát La)[22] thiền quán, tu tập và chứng ngộ giải thoát.
IV. Đặc tính nhân bản qua sự giáo hóa của đức Phật Thích Ca Mâu Ni:
1. Thành lập giáo đoàn:
a. Thành lập Tăng đoàn:
Tăng đoàn được gọi là Tăng Già (Sangha). Khi lần đầu tiên đức Phật độ năm anh em ông Kodanna, thì đó là lúc Tăng Già được hình thành. Tăng đoàn là một tập thể mở rộng, được thành lập và sinh hoạt trên căn bản tinh thần thanh tịnh, hòa hợp, bình đẳng, dân chủ không kỳ thị  màu da sắc tộc… . Đây là tập thể cấp tiến  ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Tăng đoàn Phật giáo mang hai đặc trưng căn bản là hòa hợp và thanh tịnh. Vì vậy, nó có khả năng dung chứa và thuần hóa mọi giai tầng trong xã hội khi gia nhập Tăng đoàn, tuyệt đối không có một sự kỳ thị nào. Sau khi xuất gia, nguồn gốc giai cấp, gia tộc của vị Tỳ kheo không còn quan trọng nữa. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn khuyên hàng đệ tử lên đường giáo hóa, Ngài đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng:
Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp.” [23]  
Đức Phật ra đời, tu hành thành đạo và đem những sở chứng ấy giáo hóa chúng sanh, giáo lý ấy đích thực vì con người, vì sự an lạc và hạnh phúc của con người. “Con người sinh ra không phải để phục vụ Phật giáo, Phật giáo được thành lập để phục vụ con người”[24].
Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, những tu sĩ khất thực không có trú xứ nhất định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và một bình bát để khất thực nuôi thân. Trong mưa nắng, trong sương gió, làng mạc hay phố thị, rừng núi hay đồng hoang đều có dấu chân của những con người thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và đời sống thanh hạnh và tự mình nêu gương sáng về cuộc sống thanh tịnh và giải thoát. Đó là sự nghiệp, là nội dung chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên do Đức thế Tôn đích thân thành lập.
b. Thành lập Ni đoàn:
Vào năm thứ năm sau ngày thành đạo, Thế Tôn  trở về cung thành Kapilavatthu để thăm vua Suddhodana đang lâm bệnh và thuyết pháp giúp vua cha chứng đắc A-la-hán quả trước giờ lâm chung . Vào dịp này, di mẫu Mahàpajapàti đến công viên Nirodha, nơi đức Phật đang tạm trú, cầu xin Ngài cho phái nữ được gia nhập Tăng đoàn, sống đời sống không gia đình, Sau ba lần từ chối lời thỉnh nguyện, đức Phật trở về Vesàli, di mẫu Pajapàti cùng với nhiều phụ nữ dòng Sàkya tự xuống tóc khoác cà sa vàng, bộ hành đến Vesàli để gặp đức Phật. Xúc động trước sự kiên định và lòng tha thiết xuất gia tu hành của phụ nữ Sàkya, tôn giả Ànanda đồng ý chuyển lời thỉnh cầu của họ đến Thế Tôn. Ba lần Ànanda thay mặt họ cầu xin đức Phật cho phép nữ giới xuất gia, Thế Tôn lại ba lần từ chối. Tôn giả Ànanda hỏi: “Bạch Thế Tôn sự kiện một phụ nữ xuất gia, sống đời sống không gia đình, sống trong Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng có thể có khả năng chứng được Tứ quả Sa môn hay không?”. Đức Phật trả lời: “Này Ànanda, người nữ có khả năng chứng Tứ quả Sa môn”. Sau đó, Tôn giả Ànanda thưa, nếu như vậy, di mẫu là người có ơn nuôi dưỡng ẳm bồng Như Lai lúc ấu thơ…, Người xứng đáng được Thế Tôn cho phép xuất gia, gia nhập Tăng đoàn. Cuối cùng, Đức Thế Tôn đồng ý cho nữ giới xuất gia và chế Bát kỉnh pháp[25], tức tám điều cung kính đối với chư Tăng mà chư Ni phải trọn đời vâng giữ. Di mẫu Pajapàti và nữ giới dòng Sàkya đều hoan hỷ tuân hành. Giáo hội Tỳ kheo Ni ra đời từ đó .
Ít lâu sau, bà Tỳ kheo ni Maha Pajàpati đắc A La Hán. Kinh Therigàthà (Trưởng lão Ni kệ) còn ghi rất nhiều tên và các bài kệ do các Tỳ kheo ni chứng thánh quả.
Ngài nâng đỡ hoàn cảnh của người phụ nữ, lúc bấy giờ bị xã hội khinh thường, không những bằng cách nâng phẩm giá của người nữ lên đúng tầm quan trọng, mà còn sáng lập giáo hội đầu tiên trong lịch sử cho hàng phụ nữ. Đức Phật đã không làm giảm suy giá trị của hàng phụ nữ, mà còn là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thành lập một đoàn thể, một tổ chức, một giáo hội cho nữ giới với đầy đủ Pháp và giới luật. Ấn Độ đương thời với nhiều tôn giáo, nhưng không có một đoàn thể nữ giới nào được sinh hoạt như vậy.
2. Kỷ nữ Ambapali:
Ambapali là người kỹ nữ nổi danh tài sắc của thành phố Vesali. Trên đường đi Kusinara, để nhập Niết bàn, Đức Phật dừng lại Vesali, và nghỉ ở vườn xoài của Ambapali. Được tin, Ambapali đến chào Đức Phật, và trân trọng mời Đức Phật và chúng Tăng đến dùng tiệc trai ngày mai tại nhà bà. Đức Phật nhận lời, và từ chối lời mời của hàng quý tộc Liechavi. Họ hứa trả bà Ambapali một số tiền rất lớn, để bà nhường lại cho quý tộc Liechavi đặc ân được thiết cơm Phật và chúng Tăng nhưng bà từ chối và hôm sau, y lời hẹn, Đức Phật và chúng Tăng đến với nhà bà Ambapali dùng tiệc trai. Sau bữa tiệc, Ambapali cúng dường Đức Phật và chúng Tăng vườn xoài to lớn của bà để làm Tinh xá. Sau này, Ambapali cũng xuất gia và chứng quả A la hán.
3. Độ Angulimàla (Vô Não):
            Hai mươi năm, sau ngày đức Thế Tôn thành đạo, Ngài độ tên tướng cướp khét tiếng hung ác của xứ Kosala tên là Angulimala. Còn có tên là Ahimsaka (người vô tội), và là một đệ tử lỗi lạc, thân tín của một danh sư ở Trung tâm Giáo dục Taxila nổi tiếng. Do vì lòng ganh tỵ của đồng môn khiến Thầy dạy đã hiểu lầm ông và buộc ông phải dâng lên 1.000 ngón tay út để làm lễ cầu pháp. Angulimala phải vâng lời Thầy, mặc dù rất khổ tâm. Ông bèn rút lui vào rừng Jalini ở Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số ngón tay cần thiết.
Khi ông đã thu thập được 999 ngón tay, thời Đức Phật xuất hiện. Angulimala rất mừng vì sắp có đủ số ngón tay cần thiết để nộp cho ông Thầy giáo ác độc, Angulimala rút gươm, chạy đuổi theo Phật.
Đức Phật vì lòng thương xót ông mà đến giáo hóa ông giác ngộ được việc làm tội lỗi của mình. Angulimala như bừng tỉnh khi nghe đức Phật nói rằng: “Này Angulimàla, chính ngươi mới phải dừng lại, còn Như Lai đã dừng lại lâu rồi”. Ông vứt gươm xuống đất, xin Đức Phật cho ông được xuất gia. Đức Phật nhận lời và từ đó Angulimala trở thành một vị Tăng trong giáo đoàn. Một thời gian sau, Angulimala chứng quả A la hán.
Hai sự kiện Angulimala và Ambapali cho thấy, cửa Đạo Từ Bi mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu sang, nghèo hèn và đẳng cấp xã hội. Một tướng cướp như Angulimala, một dâm nữ như Ambapali, nếu thành tâm hối lỗi, cũng có thể xuất gia, tinh tấn tu học và chứng Thánh quả cao nhất. Một lòng tin thuần thành, và một nỗ lực lớn nhất: đó là điều kiện cơ bản để đi vào đạo Thánh và trở thành bậc Thánh.
4. Trọng tâm giáo hóa của đức Thế Tôn:
            Đức Phật vì hạnh phúc cho quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì thương tưởng cho đời, Ngài đã đi tìm con đường giải thoát cho nhân loại. Nội dung Pháp luân là thành quả do đức Thích Tôn chứng đắc khi Ngài thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Mục đích giáo hóa của đức Thích Tôn là nhằm tạo thuận duyên giúp cho tất cả mọi người đạt đến quả vị giải thoát như Ngài.
Đức Phật nâng cao đời sống đạo đức của hạng người tội lỗi sát nhân như Angulimala và hạng gái giang hồ hư hỏng như Ambapali. Ngài khuyến khích kẻ yếu, đoàn kết người chia rẽ, đem ánh sáng đến cho người vô minh tăm tối, dắt dẫn kẻ mê muội lầm đường, nâng đỡ người thấp kém và tăng cao phẩm giá người cao quý. Người nghèo, người giàu, người lương thiện và người tội lỗi, tất cả đều quý mến Ngài như nhau.
5. Tính nhân bản qua lời dạy của Ngài
Đức phật từng dạy: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [26].
Đạo Phật quan niệm, con người là chủ nhân ông của chính mình. Tức là, con người là chủ của mọi hành vi, tư tưởng của bản thân mình ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Một đặc điểm ưu việt của đạo Phật mà ta khó tìm thấy ở một giáo lý của bất kỳ tôn giáo khác: một đấng Giáo Chủ lại đề cao khả năng của con người một cách khách quan đến như vậy. Phát xuất từ tính nhân bản này, nhân cách con người được tôn trọng triệt để trong đạo Phật: quyền sống, quyền tự do, quyền con người, quyền bình đẳng, … đều có một giá trị đích thực. Ta có thể nói rằng, đạo Phật là tôn giáo của con người, phát xuất từ đức Phật Thích Ca, Ngài là đấng giác ngộ nhưng Ngài là một con người; Ngài đã cất tiếng nói và có một đời sống rất người, và vì con người mà khai thị chân lý, hướng dẫn con người đến cuộc sống thật sự an vui.
C. KẾT LUẬN
Qua lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho chúng ta thấy cuộc đời của Ngài là một minh chứng sống động thể hiện rõ nét đặc tính nhân bản trong đạo Phật. Việc tìm hiểu cuộc đời của Ngài, một lần nữa nói lên được tính chất thiết thực về đức Phật và giáo pháp của Ngài. Ngài không phải là Thượng đế hay hóa thân của một Thượng đế. Ngài là một con người tối thiện trên mọi phương diện, hiện hữu trong giác ngộ bản thân rồi đem sự giác ngộ của bản thân truyền dạy lại cho nhân sinh lợi lạc. Cả cuộc đời từ lúc đản sanh cho đến lúc nhập Niết-bàn, đức Phật chỉ là một con người, nhưng bằng nỗ lực tự thân, Ngài đã liễu ngộ được sự thật đau khổ của kiếp người, Ngài đã ra đi tìm đạo và cuối cùng giác ngộ chân lý, rồi đem chân lý ấy truyền trao cho nhân sinh.
            Đức Phật không phải là đấng uy quyền, thưởng phạt, mà là một con người thật sự. Ngài đã sinh ra, lớn lên, thành gia lập thất như bao nhiêu con người khác. Nhưng ngài thấy rõ những nỗi thống khổ sinh, già, bệnh, chết…, chứng kiến những lầm than cơ cực của người dân trước những bất công của xã hội thời bấy giờ. Ngài đã từ bỏ gia đình, vợ con để tìm đến con đường giác ngộ giải thoát. Đó chính là con đường trung đạo từ bỏ hai thái cực tham đắm dục lạc và khổ hạnh ép xác.
            Phật giáo không chỉ đề cao con người mà còn đưa con người từ bất hạnh khổ đau đến an lạc giải thoát. Có thể nói Phật giáo là nghệ thuật sống của con người, giải quyết những vấn đề của con người, lấy con người làm trung tâm điểm để đánh thức những chân giá trị của cuộc sống, đem đến sự an lạc hạnh phúc trong tự thân của mỗi chúng ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
H.W.Schumann – (Trần Phương Lan dịch), Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tp. Hồ Chí Minh,
– Indacanda (dịch), Tạng Luật- Đại Phẩm (Vinaya Pitaka – Mahāvagga), Nxb Tôn Giáo, 2010.
– Pháp sư Thánh Nghiêm – (Tâm Trí dịch), Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ, Nxb Phương Đông, 2008.
– Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Nxb Phương Đông, 2009.
– Thích Minh Châu (dịch), Kinh Pháp Cú, Thiền viện Vạn Hạnh ấn hành, 1996.
– Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tăng Chi Bộ I, II, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011.
– Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bộ I, II, III, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011.
Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trường Bộ I, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2005.
– Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng  Bộ IV, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011.
– Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, Nxb Tôn Giáo, 2011.
– Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Nxb Tôn Giáo, 2011.
– Thích Trung Hậu & Thích Hải Ấn (sưu tập), Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2009.
– Thích Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2009.
– Walpola Rahula – Thích Nữ Trí Hải (dịch), Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2011.


[1] Bhagavadgītā là một trong những thánh điển quan trọng của Ấn giáo. Tuy xuất hiện sau các Veda và một vài Upanishad nhưng Bhagavadgītā có một vị trí đáng kể trong hệ thống triết học và có ảnh hưởng lớn vào quan điểm xã hội của tôn giáo này.
[2] Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Số 165, Thiền viện Vạn Hạnh ấn hành, 1996.
[3] Suddhodana (tiếng Phạn) hay Jòbonnò (Nhật ngữ). Thân phụ của thái tử Siddhàrta (Tất Ðạt Ða) và là tộc trưởng bộ tộc Thích Ca (Sakiya). Ông là vua cai trị một nước nhỏ ở dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas) có kinh đô đóng tại thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), ngày nay thuộc vương quốc Nepal.
[4] Màyà (Phạn) hay Maka (Nhật),  gọi đầy đủ là  Mahà Màyà.
[5] Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Nxb Tôn Giáo, 2011
[6] Lumbini (Lâm Tỳ Ni), tên một hoa viên nơi đức thái tử Siddhattha, nằm gần kinh đô Kapilavasthu (Ca Tỳ La Vệ) của bộ tộc Sàkyà (Thích Ca). Ngày nay Lumbini (Lâm Tỳ Ni) có tên gọi là Rummindei thuộc lãnh thổ xứ Nepal. Vua Asoka (A Dục) đến viếng thăm nơi này khoảng vào năm 250 trước tây lịch. Ðức vua đã cho xây dựng một trụ đá tại đây để kỷ niệm chuyến đi hành hương chiêm bái của Ngài. Lumbini là một trong bốn thánh tích quan trọng nhất của Phật Giáo. Ba Phật tích kia là Buddha Gaya (Phật Ðà Ca Da), vườn Sarnath (Lộc Uyển) và Kusinara (Câu Thi Na).
[7] Trung Bộ III, Kinh Vị Tằng Hữu Pháp, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tr. 317-328.
[8] Samghabhadra (Tăng Già Bạt Đà La) dịch, Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa (Samantapàsàdikà), Đại Chánh Đại Tạng Kinh, số 1462
[9] H.W.Schumann – (Trần Phương Lan dịch), Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.49.
[10] Kinh Đại Bổn (Mahãpadãnasutta), thuộc Kinh Trường Bộ I, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011.
[11] Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2009, tr.47.
[12] Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.47.
[13] Đức Phật Thích Ca Đã Xuất Hiện Như Thế, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2009, tr.151-152.
[14] Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tăng Chi Bộ I, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011, 161-162.
[15] Kinh Đại Bát Niết Bàn(Mahàparinibbànasutta), số 15, thuộc Trường Bộ I, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011, tr.659.
[16] Đức Phật Lịch Sử, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.122-123.
[17] Thích Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2009, tr.61.
[18] Kinh Thánh Cầu số 26, Trung Bộ I, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011, tr.369.
[19] Kinh Thánh Cầu số 26, Trung Bộ I, 2011, tr.372.
[20] Có thuyết ghi là: Ajnàta Kaudinya (A Nhã Kiều Trần Như), Ásvjit (A Thấp Bà), Bhadrika (Bạt Đề), Màhànàman (Ma Ha Nam) và Dásbala Kàsypa (Thập Lực Ca Diếp).
[21] Thích Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2009, tr.62.
[22] Còn gọi là Bodhi-druma (Bồ Đề Thọ).
[23] Tỳ Kheo Indacanda (dịch), Tỳ Kheo Indacanda (dịch), Tạng Luật- Đại Phẩm (Vinaya Pitaka – Mahāvagga), Nxb Tôn Giáo, 2010, tụng phẩm19-20.
[24] Tương Ưng Bộ Kinh, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011.
[25] Tám pháp mà người nữ phải giữ gìn khi muốn xuất gia trong Chánh pháp của Phật là:
1. Tỳ kheo Ni phải đến Tỳ kheo Tăng cầu thọ cụ túc giới.
2. Tỳ kheo Ni mỗi nữa tháng phải đến Tỳ kheo tăng cầu dạy bảo (giáo thọ).
3. Tỳ kheo Ni ở chổ nào không có Tỳ kheo Tăng thì không được thọ hạ.
4. Tỳ kheo Tăng được quyền gạn lỗi Tỳ kheo Ni, nhưng Tỳ kheo Ni không được gạn hỏi và nói lỗi Tỳ kheo Tăng.
5. Tỳ kheo Ni không được giận hờn mắng trách Tỳ kheo Tăng.
6. Tỳ kheo Ni dù được 100 tuổi hạ khi thấy Tỳ kheo Tăng mới thọ giới cụ túc cũng phải cung kính đảnh lễ.
7. Tỳ kheo Ni nếu phạm học pháp khi Bố Tát phải đến trong hai chúng làm pháp Ý hỷ (Ma na đỏa).
 8. Khi an cư xong, Tỳ kheo Ni phải đến trong hai chúng cầu xin tự tứ về ba việc “thấy, nghe, nghi”.
[26] Tăng Chi Bộ II, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, 2011, Tr.77

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s