B-CHI TIẾT:
I. Thỉnh Thầy tụng Đám:
Ngày nào quan tài còn quàng tại nhà, thức Vong Linh còn ở đó, cầu cho Vong Linh nghe Kinh để được siêu thoát.
Đến Chùa thỉnh Thầy và Ban Hộ Niệm đến tụng Kinh (Phải lễ Tổ để thỉnh tượng Phật và Chuông Mõ).
Thỉnh Chư Tăng hoặc Ban Hộ Niệm đến luân phiên hộ niệm tụng Kinh cho Vong Linh nghe Kinh thính Pháp, xả bỏ trần duyên, siêu sanh Tịnh Độ thì mới tốt.
Nếu thỉnh người Xuất-gia tụng Kinh thì Nghi tức tụng niệm do các vị ấy xử lý. Nhưng không nhất định tổ chức Pháp hội lớn.
Nếu không thỉnh người Xuất-gia tụng Kinh, thì Hiếu quyến, bạn bè, Phật tử cũng có thể tụng Kinh. Trong thời gian không có người tụng, thì có thể mở băng niệm Thánh Hiệu”NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”

1.Những định kiến sai lầm:
Nhiều người hiểu lầm là Chư Tăng, Ni trong Chùa chỉ chờ khi có người chết rồi đến tụng Kinh cho Vong Linh siêu thoát mà thôi, chớ không có làm việc gì giúp ích cho đời cả, tư tưởng đó là hiện tượng suy đồi của Phật giáo vì Phật giáo chủ trương độ sanh, làm việc gì cũng hướng về lợi ích cho chúng sanh, còn độ tử chỉ là phần ít thôi. Tại sao? vì khi chết, Thần Thức theo Nghiệp mà thác sanh, lời Kinh tiếng Kệ chỉ giúp ích phần nào cho người chết được nhẹ nhàng thôi.
Hoặc có người cho rằng vì đám ma buồn bã lạnh lẽo quá nên phải rước Thầy đến tụng Kinh cho ấm áp trong nhà, khuây khoả bớt cảnh trạng thê lương tang tóc. Nếu hiểu như vậy thì rất sai lầm và đánh giá thấp người tu, bỡi vì như Chư Tăng tu hành chơn chánh để siêu phàm nhập thánh, tự giác, giác tha, đắc quả Bồ Đề, thoát vòng snah tử chớ đâu phải đạo Phật là để dành riêng tụng Kinh cho người chết, mà mục đích chính là để cải hoá tâm hồn người dứt vọng lìa mê trở về với chơn tâm thanh tịnh, diệt trừ thói hư tật xấu là tham, sân, si, mạn, nghi ác kiến… để ngay trong đời này mình sống thanh cao đạm bạc toàn chơn thiện mỹ, an vui hết khổ, chớ Chư Tăng không phải như mấy anh kép hát hay ca sĩ được mời đến đám tang để diễn trò cho tang quyến giải trí bớt ưu phiền.

2. Mối nghi kị không đáng có về Thầy Tụng Niệm:
Một vấn đề mà nhiều người thắc mắc nghi ngờ là thỉnh Thầy tụng Kinh Cầu Siêu mà Vong Linh có được siêu hay không? Kinh nói:”Chế Tâm nhứt xứ vô sự bất biện”nghĩa là để Tâm định lại 1 chỗ thì việc gì cũng thành tựu. Chư Tăng trì trai giữ Giới, thanh tịnh tu hành, tất nhiên tinh thần phải sáng suốt và dũng mãnh, các vị tập trung tư tưởng thành tâm chú nguyện thì Vong Linh quyết nhờ sức mạnh của Chư Tăng mà được siêu sanh.
Lại có người khinh thường Chư Ni mà không thỉnh tụng Kinh chỉ quý trọng Chư Tăng. Thật ra, Tăng hay Ni mà tu hành chơn chánh, đều có công đức như nhau. Trái lại các thầy không có oai nghi giới đức thì còn thua người Phật tử tại gia mà tu hành thanh tịnh.

3. Thỉnh Thầy tụng niệm:
Con người có 2 Phần: Phần Hồn và Phần Xác. Khi người đã hết số, mạng chung, thầy thuốc không cứu được thân mạng, thì gia đình phải nhờ đến Chư Tăng cứu độ phần Vong Linh được thính Pháp Văn Kinh, Thần Thức được nhẹ nhàng, dứt bỏ mê lầm mà siêu sanh Tịnh Độ. Khi đau bệnh cần đến Lương Y, thầy thuốc cứu chữa bao nhiêu thì khi chết cũng cần đến sự giúp đỡ hộ niệm của Chư Tăng bấy nhiêu. Vì vậy cần phải biết quý trọng Chư Tăng như thầy thuốc hoặc hơn thế nữa, bỡi vì thầy thuốc chỉ có tài chữa bệnh, nhưng đời sống và tâm hồn họ chưa được thuần thiện như Chư Tăng tu hành thanh tịnh, giới đức trang nghiêm. Do đó, Tang Chủ cử 1 người trong thân thuộc hoặc mượn 1 người trong Ban Hộ Niệm đặc trách phần thỉnh, rước, tiếp đãi, đưa đón cho đúng Pháp thì Tang Chủ mới được Phước và Vong Linh mới được lợi lạc.
* Quy Tắt thỉnh Thầy (tuyển trạch):
Còn vế vấn đề Pháp Sư, ta phải chọn những bậc đạo hạnh chân chính mà cầu thỉnh: ngoài ra những kẻ phóng đảng phá giới, hoặc chỉ biết nhìn đến tài lợi mà thôi, ta không nên cầu thỉnh làm gì.
Những hạng Pháp Sư mà đối với Giới Luật đạo hạnh có phần thiếu xót, hoặc bất tịnh không đúng đắn và ngông cuồng….vì Thần Thức có đủ thần thông nên họ biết đó là lừa gạt, thế là họ sẽ thất vọng và đâm ra hối hận. Vì hối hận nên họ đâm ra tức giận rồi phải đoạ vào cảnh khổ.
Nếu có thỉnh Sư Tăng hoặc Ni thì phải xem thuở sanh thời Vong Nhơn có thích Vị đó không?
Nếu không thì đừng thỉnh, vì nếu Sa Môn kia không giữ Giới, tịnh hạnh khiếm khuyết, cử chỉ ngã mạn, lời nói hoặc tâm nghĩ ngông cuồng, thì do Thần Thức (Trung-Ấm-Thân) sở đắc thần thông nên nhìn ra ngay. Khi mà Thần Thức biết mình bị lừa gạt thì họ sẽ đâm ra tức tối và thất vọng, khiến phải bị đoạ vào ác đạo thì không hay.

* Cách Khai Thị đối với Thần Thức:
Nếu trong gia quyến muốn rước Pháp Sư hoặc trước khi thỉnh bất cứ vị Sa Môn nào đến để trợ giúp Vong Nhơn làm Phật Sự, thì người nhà hoặc Thiện Hữu phải thành tâm nói như thế này bên tai người đang hấp hối hoặc đối trước Bàn Vong Linh chỉ giáo theo những lời sau đây. Về sau, khi làm các Phật Sự dù có đôi chút sai lầm, cũng vẫn được lợi ích như thường:
+ Cách 1­: “Người nên biết rằng thân thể của Bậc Tăng Già tên:……. là thân thể của Phật. Người phải gợi cái ý tưởng chỉ nương theo đạo Pháp chứ không nương theo người. Dù người hành đạo đó có lầm lỗi thế nào, cũng do cái lỗi tâm hồn ta chưa được trong sạch đó thôi. Ví như người soi gương kia, chỉ vì mặt mình không sạch, nên cái bóng trong gương cũng dơ dáy. Vậy thì nên hiểu rằng: Trong khi kẻ khác hành đạo có sự sai lầm, đều bỡi tâm niệm của người chưa được trong sạch. Người cần có 1 ý nghĩ như thế, phải biết lòng cung kính ái mộ Pháp Sư kia, chắc chắn 1 việc Phước nào cũng sẽ biến thành Phật Sự thanh tịnh, không đến nỗi mất phần lợi ích của mình”. (7 lần)
+ Cách 2



“Phật có Nhứt-Thiết-Trí
Biết ai là chân tu
Ai là người lừa gạt
Đó là tội của họ!
Người đừng để ý đến
Hãy buông bỏ tất cả
Đây là giờ phút thiêng
Chỉ 1 niệm sai lầm
Nẻo dị loại mang lông
Đội sừng, khó mà ra!
Chớ sanh tâm giận hờn
Mà phiền não khởi lên!
Hãy khởi tâm trong sạch
Y Pháp, bất y nhơn
Ai mà chẳng lầm lỗi
Người tu cũng như vậy
Người (tên họ:……….)


Phải nhất tâm quán tưởng
Tự tánh là Chơn Không!
Tất cả Pháp như huyễn
Như dợn nước dưới nắng
Như mộng, như ảo ảnh
Như thành Càn-Thát-Bà
Như tiếng vang, bóng nước
Như trăng nơi đáy nước
Như hoa đốm hư không
Như vòng tròn lửa quay
Người (tên họ:……….)

Phải nhất tâm nghe nhận
Tất cả: DUY TÂM HIỆN
Tất cả: DUY TÂM HIỆN
Tất cả: DUY TÂM HIỆN
hãy cho Người cơ hội
Tụng Chư Kinh và Chú
Phục vụ cho chính mình
và cho toàn gia đình”

(7 lần)



4. Lợi ích của sự tụng niệm:



Còn nói về sự tụng Kinh cho người chết, dù cho Chư Tăng có thành tâm tụng niệm và gia chủ chí thành thành cầu nguyện thì cũng chỉ hi vọng đôi ba phần mà thôi chớ không phải hoàn toàn siêu thoát, vì lúc sống không chịu nghe Kinh thính Pháp không tin tưởng tín quý Tam Bảo, thì khi chết làm sao họ chịu nghe Kinh. Nên trong Kinh Địa Tạng có nói: Khi trong nhà có người chết, thân nhân làm chay bố thí, tụng đọc tôn Kinh cầu nguyện, thì Vong Linh chỉ hưởng được 1 phần công đức, còn lại 6 phần thì thân nhân hiện tiến được hưởng. Còn nếu trong lúc sanh tiền mà biết quy y Tam Bảo, tinh tấn tu hành, thanh tịnh, giới đức trang nghiêm, thì khi chết dù khi có rước Thầy tụng niệm, thì họ cũng vẫn không được siêu sanh Tịnh Độ. Còn nếu người nào khi sống có tu mà khi chết lại được tụng Kinh Chú Nguyện cầu siêu thì người chết ấy được hưởng trọn 7 phần công đức.
II. Thành khẩn:
Đối với người chết phải hết lòng thành kính, nghĩ nhớ để cầu cảm thông, không nên chỉ trang sức bề ngoài mà thôi và cũng không nên giao phó công việc ấy cho kẻ khác làm. Theo như trong bộ bút ký của ông đồ Trường Khanh đời Tống có chép:”Ở Thông Châu có ông Tư Mã Dưỡng Khiêm, đã từng vì vong phu nhân (tức người vợ chính đã chết) mà làm rất nhiều Phật sự. Nhưng vài năm sau người tiểu thiếp của ông, một hôm bỗng chết, cách một đêm mới tỉnh lại, mà than khóc bảo với Tư Mã rằng:”Thiếp chết đi vào nơi Minh phủ, thấy vong phu nhân bị giam trong một ngục tối, phu nhân nói với thiếp rằng:”Ở đây khổ sở không thể nói được. Vậy xin gấp gấp vì tôi mà làm việc công đức để cứu độ”. Thiếp hỏi:”Vậy sau khi phu nhân đã chết rồi, Tướng công đã từng vì phu nhân làm nhiều Phật sự, đều là vô ích cả sao?”. Phu nhân đáp:”Chính thế, vì việc tụng kinh sám hối vẫn phải chọn những nhà Sư hữu đạo, gia chủ phải trai giới chí thành thì mới có thể diệt tội thêm phúc được. Nhưng đây thì trái lại; trước kia thầy Sa-môn tụng kinh nhà trên, mà Tướng công thì đánh cờ nhà dưới như vậy thì có ích gì?”. Tư Mã nghe nói cũng khóc òa lên, và sau đó mới chọn những danh Sư có giới đức, sửa sang rất chỉnh đốn, làm đạo tràng (Tụng kinh, niệm Phật) luôn ba đêm ngày”.
Đấy chính là những việc Trường Khanh đã mục kích, mà cũng là việc của kẻ con hiền cháu thảo phải nên biết vậy.

III.Thời gian Tang Lễ:
Tang Lễ chỉ cử hành trong vòng 2-3 Ngày (tức là từ 48 đến 72 tiếng đồng hồ mà thôi), không nên để lâu hơn nữa vì để bảo vệ sức khoẻ và vệ sinh cho thân nhân trong gia đình; không phải kiêng kỵ chi hết cả, vì trong sách có ghi”Tam Nhựt bất trạch nhựt”mà chỉ nên chọn giờ thích hợp (với hoàn cảnh sinh hoạt xã hội) để Di Quan cho tiện mà thôi.
Nhà nào có đám tang thì thân nhân phải bận rộn lo liệu nhiều việc, tiếp khách cả ngày, ban đêm phải thức suốt đêm để canh giữ và cúng kiến, tụng Kinh.v.v…..hết sức mỏi mệt, nếu kéo dài đến 4-5 hôm thì quá sức mệt nhọc sẽ ngã bệnh, làm mất nhiều thì giờ, trở ngại sự sản xuất, công việc làm ăn v.v…
* Trừ một số trường hợp đã được hộ niệm:

Khi người bệnh tắt hơi, thì mùi tử khí trong thân xác người chết xông lên khắp nhà, dầu có liệm vào quan tài cũng không giữ kín được, càng để lâu thì mùi ấy càng dày đặc. Mùi tử khí này rất độc, nó thấm vào vật gì thì vật ấy sẽ mau hư hoại, thí dụ như dấm rượu, trà sẽ bị hư, thức ăn mau thiu, thuốc Nam thuốc Bắc rút mùi tử khí sẽ mất hết tác dụng phải bỏ không dùng được.
Thậm chí thân nhân trong nhà hoặc khách đến thăm phúng điếu, mắc bệnh ghẻ nhọt, đau mắt, thấp khớp, phù thủng v.v… sẽ bị mắc hơi tử khí đó mà hành bệnh nặng hơn, nếu không biết cách xông khử thì bệnh rất lâu hết.
Chẳng những khi chết mới phát mùi hôi, mà lúc bệnh sắp chết cũng đã có mùi đó rồi. Lúc sắp chết, hơi nóng trong người bay tỏ ra ngoài mang theo uế trược từ thân ra tạo thành mùi tử khí. Do đó, sau khi người bệnh tắt hơi, thân nhân thường dằn nải Chuối xanh trên bụng người chết để rút bớt hơi, chỉ trong vòng 6 tiếng đồng hồ thì nải chuối chín, ai ăn nhằm Chuối này sẽ bị ngộ độc và bệnh Phong đơn.
Ngoài ra nếu người chết bị bệnh truyền nhiễm thì lại càng nguy hiểm, vi trùng sẽ thoát theo hơi nóng người chết toả ra khắp nhà, ai kém sức khoẻ sẽ bị lây bệnh rất mau.
Mùi tử khí bám vào quần áo hay kẹt vách, tủ, rương v.v… rất lâu tan, có khi 6 tháng vẫn còn hôi. Do đó, Tang Lễ không nên để lâu. Tang Lễ hoàn tất, nên rửa nhà, xịt nước hôi Cresyl đặng tỷ uế trong phòng người chết và nơi đặt quan tài sau khi Di Quan, rất cần để khử bớt mùi tử khí, hợp vệ sinh và cho sạch sẽ trong ngoài.

IV. Lễ Thành Phục Phát Tang – Lễ Xã Tang:

Việc tẩn liệm hoàn tất, đến Lễ Thành Phục Phát Tang.
Sau khi đã lo liệu đầy đủ mọi việc về Tang Lễ rồi, làm Lễ Thành Phục Phát Tang báo hiệu cho dòng họ, xóm làng biết.
Tang Phục thì tuỳ theo gia cảnh mà sắm đủ quần áo, khăn mũ, nếu mà nhà nghèo thì chỉ để cái Khăn Tang cũng đủ, bỡi vì may đồ tang cho nhiều mà lòng không thương tiếc người quá cố thì cũng không ích lợi gì. Cử hành Lễ Thành Phục thì Tang Quyến tựu lại đầy đủ, để mọi người theo thứ tự vai vế, lãnh khăn áo chịu tang (Tang phục theo xưa có rất nhiều cách như: con trai phải có dây rơm mũ bạc, gậy trúc… Con dâu cũng có áo quần khăn tang đầy đủ, riêng con gái thì chỉ được đội khăn tang và mặc quần tang. Các cháu thì đội khăn hoặc vành tang).

1. Lễ Thành Phục Phát Tang:
* Phát Tang:
Mâm để Tang Phục đặt trước Linh Sàng. Trên Bàn Vong để 1 ly nước trắng, nhúng cành bông để vị Thầy dùng cành bông nhúng nước chú nguyện trên mâm đồ tang.
Thầy xướng gọi Tang Quyến tựu vị, quỳ trước Linh Sàng.
Thầy tụng 1 biến Đại Bi Chú, sái tịnh vào mâm Tang Phục, gọi tên từng người thọ tang đến lãnh tang, lạy 2 lạy rồi chích khăn lên đầu, mặc quần áo tang (Theo tục lệ, người con Gái chỉ được phát cho khăn, quần mà không có áo, nay nên chấn chỉnh lại phải có thêm chiếc áo cho đủ lễ như con Dâu. Người con Rể quấn khăn, riêng hàng con cháu chít đội mấn đính thêm miếng vải nhỏ hình tròn màu Xanh hay Đỏ tuỳ theo thuộc bên Nội hay bên Ngoại. Vợ hay Chồng để tang cho nhau cũng phải đúng theo Nghi thức. Nếu nhà nghèo 1 khăn tang cũng đủ).
* Các loại Thọ Tang:
Đệ tử để tang Thầy gọi là Tâm Tang.
Con cháu để tang cho Ông Bà Cha Mẹ gọi là Hiếu Tang.
Thân Nhân để tang gọi là Nghĩa Tang.
Bạn Bè để tang cho nhau gọi là Tình Tang.
Mướn người để tang dùm gọi là Tiền Tang.
*Thời gian Thọ Tang:
Trai thọ tang Cha Mẹ trong thời gian 3 Năm.
Gái có gia đình thọ tang Cha Mẹ Ruột trong 1 Năm.
Thân bằng quyến thuộc thọ tang 1 Năm 3 Tháng 10 Ngày hoặc 49 Ngày tuỳ theo thân sơ, tối thiểu vì hoàn cảnh ở xa thì 21 Ngày.

2. Lễ Xã Tang:
Con cháu không được Xã Tang ngoài Mộ.
Khi Xã Tang, có Thầy lấy kéo nhấp tóc trên đầu người thọ tang, khiến người ta sợ sệt, làm như vậy là sai ý nghĩa; vì đây là Lễ Xã Tang chớ không phải Lễ Xuống Tóc. Vị Thầy chỉ rải nước chú nguyện trên đầu người mãn tang, rồi lấy lược chải bỏ khăn tang xuống đất là xong.
Những đồ Tang Phục và bàn phúng, trướng, liễn sau khi Xã Tang đừng đốt tiêu vô ích mà nên đêm hiến vô Chùa để làm khăn lau bàn Phật hay lau sạch Chánh điện, thì gia chủ được Phước vô cùng.

V. Cúng Vong Linh:
Sau Lễ Thành Phục đến phần”Tiến Linh”(Cúng Cơm). Nên cúng thức ăn chay, cúng nước Trà thay vì rượu, vì rượu là 1 giới trong 5 giới, người sống còn không được uống huống chi người chết uống, Vong Linh đã mê mờ còn chuốc rượu say sưa làm sao tỉnh táo mà nghe Kinh để siêu độ cho được.
Sau khi cúng xong, tới Lễ Khai Kinh, tang gia tựu vị, quỳ trước Bàn Phật. Thắp nhang khấn vái, còn Thầy và Ban Hộ Niệm đứng 2 bên. Tang Chủ vái xong lạy 3 lạy, quỳ sau Thầy. Thầy quỳ phía trước Niệm Hương Kỳ Nguyện, đảnh lễ Phật, tán lư hương, tụng Chú Đại Bi, tán Vi Đà Hộ Pháp, tán Địa Tạng, tán Thập Điện Minh Vương, Kệ Khai Kinh, Hồi Hướng, Tự Quy Y. Sau khi Khai Kinh xong, Thầy và Ban Hộ Niệm ra về. từ đó thân bằng quyến thuộc đến phúng điếu chia buồn.
Từ khi Thành Phục cho đến lúc Di Quan, hằng ngày phải cúng cơm 2 lần, buổi Sáng gọi là”Triêu Điện”, buổi Chiều gọi là”Tịch Điện”. Mỗi khi cúng chỉ lạy 2 lạy mỗi lần vì coi như còn Sống (sau khi Mai Táng, mới lạy 4 lạy trước bàn thờ, vì từ đây mới kể là đã Chết). Nếu không có Thầy, thì nhờ quý Sư Cô hay Ban Hộ Niệm cúng, hoặc trong nhà có người biết Nghi thức thì tự cúng lấy cũng được.

1. Đồ cúng Vong Linh:
Cúng kiến Vong Linh nên làm thức ăn chay để tránh tội Sát Sanh, vì cúng bằng đồ sát sanh sẽ làm cho Vong Linh bị trở ngại khi siệu độ.
Để cúng người chết chỉ cần hoa tươi vài thứ trái cây, có thể thêm ít món chay. Ngoài những thứ này ra không cần gì thêm.
Trước Linh Cửu bày hương, hoa, rau quả và thức ăn chay để cúng. Lẵng hoa, vòng hoa, trướng cũng thích đáng nên hạn chế.
Tất cả những mùi hôi thúi và các thứ ô uế, cũng như: chó, mèo.v.v…chớ nên để gần người chết. Vì khi chết, Thần Thức (Thân-Trung Ấm) chỉ ngửi mùi để sống, chớ không thọ được thức ăn nào khác.

2. Cúng tế Vong Linh:
Về cách sắp đặt cúng tế, thì rất kỵ việc sát sanh, vì việc sát sanh càng làm liên lụy khổ quả cho người chết. Cho nên thân Trung ấm nếu một phen thấy được việc ấy tức thì bảo thôi; nhưng ngặt nỗi âm, dương cách trở, nên không thể nào nghe được. Vì thế kẻ sống còn, vẫn trở lại làm sát sanh như thường. Đối với kẻ chết không thể ngăn nổi sân niệm khởi lên. Đã thế, nếu một phen sân tâm khởi lên, liền phải đọa vào địa ngục; cho nên người sắp đặt cúng tế cần phải chú ý.
Nếu muốn cúng tế, thì nên dùng đồ chay, hương, hoa, sữa, bánh và đồ trái, chớ dùng những đồ uế tạp và sát hại sanh vật. Như trong Kinh Địa Tạng đã nói:”Làm những việc sát hại, cho đến bái tế quỉ thần; đã không có một mảy may phúc đức, không có lợi gì cho kẻ chết mà còn kết thêm tội lỗi càng sâu nặng. Dù cho kẻ chết về đời sau của họ, hoặc trong đời này có thể chứng được Thánh quả, hoặc sanh lên Trời; nhưng khi lâm chung bị bà con làm ác nhân ấy (tức là nhân sát hại) cũng làm cho họ phải liên lụy nhiều bề, chậm sanh về chỗ lành. Huống chi kẻ chết đó khi sống còn chưa từng làm một chút việâc lành, chỉ một bề nương theo gốc nghiệp mà tạo tác, lẽ phải chịu ác thú, nỡ nào bà con lại gây thêm nghiệp cho họ?”
Trong luật Thuận Chánh Lý, quyển thứ ba nói:”Có con quỷ tên là Hy Tự, nó hành động được tự do, có thể đi hết các phương dễ dàng cũng như chim bay giữa trời, qua lại không ngăn ngại. Sở dĩ nó phải đọa làm thân quỷ, duyên cớ có hai:
– Là lúc bình sanh của nó, mê say theo lối bàn luận của thế tục, chắc rằng: chết rồi quyết phải thành quỷ. Cho nên luôn luôn mong mỏi sau khi chết rồi, sẽ được con cháu đem đồ ăn đến cúng tế. Vì chấp chặt tà kiến ấy, và nhờ có căn lành đời trước, nên mới đọa vào loài quỷ này, luôn luôn mong mỏi thờ cúng, bởi thế nên gọi là quỷ Hy tự.
– Là lúc bình sanh hay ưa gần gũi giao thiệp và vì muốn được giàu có, cho nên chỉ biết tích trữ của cải cho mình, ôm lòng bẩn chật, dù cho dư dật cũng không chịu bố thí. Vì ác nghiệp ấy, nên phải đọa vào loài quỷ này. Luôn luôn vì lòng ưa mến của cải ở đời, cho nên thường hay nương náu chung quanh nhà cửa hoặc những nơi nhơ nhớp. Bởi thế, nếu bà con, bạn bè cúng tế, thì sanh lòng cảm khái và hối hận sự bẩn chật của mình ngày trước. Do cái niệm lành ấy, nên được cái phúc hưởng thọ cúng tế”.
Trong Kinh Quán Đảnh, quyển thứ sáu cũng có nói:”Những kẻ trong lúc bình sanh không làm lành, cũng không làm dữ; thì sau khi chết rồi không có quả báo gì xuất hiện, cho nên sẽ làm loài quỷ và được tự do. Nhưng loài quỷ này thường hay nương náu nơi mồ mả của mình hoặc mồ mả của kẻ khác; dựa theo cái dư khí của cốt tủy mà được hiển linh. Cho nên nếu ai có cúng tế, thì cũng được hưởng thụ. Đến khi xương tủy đã mục nát, thì mất chỗ nương tựa, tức liền tìm đến chỗ nào xương tủy chưa mục nát và vô chủ để nương tựa”.
Trong Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, quyển thứ 16 cũng nói:”Có một loài quỷ tên là Hy vọng, vì trong lúc sống còn, hay ưa buôn bán tính toán, chẳng kể gì đến phải chăng, gạt người lấy của, làm như thế mà tự cho là vừa ý. Còn những việc bố thí, thành tín, phúc đức, giới cấm v.v… thì không bao giờ nói đến. Luôn luôn đem lòng bỏn xẻn ganh tỵ, không ưa gần gũi bạn lành. Cho nên, đến khi lâm chung phải đọa vào làm quỷ này. Loài quỷ này mặt mày đen xám, luôn luôn rơi lụy, tay chân lở loét, tóc tai bù xù, kêu gào thảm thiết. Nếu như con cháu có lòng nghĩ đến tiên linh mà cúng tế, thì quỷ này mới được uống ăn. Ngoài ra, không bao giờ được hưởng thọ.

3.Hiến thực:
Hiến thực là hằng ngày 2 bữa lo cúng cơm kể từ lúc Mai Táng xong, trong đó có cả Tế Ngu rồi. Người sống ăn gì, thì cúng thức ăn đó (Nên cúng Chay), nếu nghèo quá thì lưng cơm, hạt muối cũng được, miễn là thực lòng thương tưởng là quý.
Mỗi tháng có 4 Ngày Cúng Cơm cần thận trọng hơn là: Ngày Sóc (Ngày mùng 1 đầu Tháng), Ngày Vọng (Ngày RẰM 15), Ngày Hối (Ngày cuối tháng 29 hoặc 30).
*Hỏi: Cúng kiến cho người chết họ có ăn được không?

Đáp: Trong Kinh Phật có nói rõ nhiều cách ăn, tuỳ theo mỗi loài:
– Chư Phật thì lấy Thiền Duyệt vi thực.
– Người tu thì lấy Pháp hỷ thực.
– Chư Thiên thì Thức thực.
– Loài Người thì Đoàn thực.
– Ma Quỷ thì Xúc thực, nghĩa là xúc chạm vào thức ăn mà cảm thấy no, chớ không phải ăn nuốt như loài người hay loài vật. Nên lời tục thường nói là”Thức ăn để cách đêm bị ma vọc, nên cần phải đậy đệm lại cẩn thận”.
Do đó, nếu Vong Linh chưa siêu mà cúng kiến cho họ, thì sẽ hưởng được bằng cách Xúc thực.
Còn như Vong Linh nào bị đoạ vào Ngạ Quỷ thì không ăn được, khi cúng cần phải tụng bài Chú Khai Yết Hầu, Chú Biến Thực Biến Thuỷ và Phổ Cúng Dường Chơn Ngôn thì họ mới hưởng được.

VI. Cúng Thất-Chung Thất – Lễ Trai Tăng:
1. Cúng Thất-Chung Thất:
Nên đến Chùa cúng tốt hơn ở nhà, vì Chùa có nhiều Chư Tăng, Ni và Phật tử đồng Hộ Niệm, thì Nguyện Lực mạnh hơn ở tại nhà không được thanh tịnh.
Mỗi 7 Ngày nên về Chùa cúng”Thất”1 lần để Cầu Nguyện cho Vong Linh được siêu độ, thất thứ 7 (49 Ngày) là Chung Thất.
Trong thời gian 49 Ngày, Hiếu quyến có thể cúng hoa tươi hoặc trái cây ở nhà và sớm tối niệm Thánh Hiệu”NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT hay A DI ĐÀ PHẬT”, đem công đức này hồi hướng cho người quá cố, giúp người ấy tăng thêm duyên lành, vãng sanh về đường lành.
2. Lễ Trai Tăng:
Thường có nhiều đám làm Lễ Trai Tăng trong lúc quan tài còn đặt tại nhà, như vậy không thích hợp. Vì trong lúc Tang gia bối rối, nhiều việc đa đoan buồn rầu đau đớn mà làm tiệc đãi đằng Chư Tăng thì quá bận rộn, vả lại xác chết còn nằm tại nhà mà Chư Tăng ngồi ăn uống thì mất lịch sự.
Nếu muốn làm Trai Tăng đầy đủ Nghi Lễ, thì đợi đến ngày làm Thất trong vòng 7 thất sẽ tổ chức vừa chu đáo vừa trang nghiêm. Trừ trường hợp đám tang của Chư Tăng tại Chùa có thể làm Lễ Trai Tăng được vì cảnh Chùa rộng rãi đủ phương tiện và có nhiều Phật tử cùng lo.
VII.Cách Làm Việc Phước:
Hãy đem hết sở hữu của Vong Nhơn mà Bố Thí hoặc Cúng Dường.
Nếu Kinh tế cho phép, trong thời gian có Tang nên lấy danh nghĩa người chết làm việc Bố Thí, tạo phúc cho người chết.
Nên Cúng Dường, Bố Thí, Phóng Sanh, làm các việc lành để Hồi Hướng cho Vong Linh được nhẹ nhàng và siêu thoát.
Nếu như thân hữu tỏ lòng tôn kính, ngoại trừ những gia đình khó khăn phải để tiền chi dụng trong Tang Lễ và những nhu cầu cấp thiết trong cuộc sống, tốt nhất nên chuyển tiền đến cúng dường Tam Bảo, hoằng Pháp lợi sanh và những công việc từ thiện; đem công đức này hồi hướng cho người chết được thoát khổ, lên chín phẩm Hoa Sen.
Hiếu Quyến nên tiết kiệm chi phí, lấy danh nghĩa người quá cố để ủng hộ tổ chức từ thiện, cúng Chùa hoặc đoàn thể Phật giáo, đem công đức lành này hồi hướng để tăng thêm công đức cho người ấy, đời sau không chịu khổ đói lạnh, bệnh đau sợ hãi.
Cái yếu điểm của việc Phúc, phải lấy hạnh Bố Thí làm gốc; hoặc đem di sản của kẻ chết thì tốt hơn hết, nếu không thì lấy của cải của bà con bạn bè mà giúp vào cũng được, để làm việc phúc đức; thì người chết chắc chắn được lợi ích. Như trong kinh Vô thường đã nói:”Nếu như sau khi tính mạng đã lâm chung, thì nên lấy y phục mới mẻ của người chết, hoặc lấy những vật thọ dụng của kẻ còn sống: chia làm 3 phần, vì người chết đó mà cúng dường Phật-đà, Đạt-ma và Tăng-già (Tam bảo). Nhờ đó mà người chết dù cho nghiệp nặng cũng trở thành nhẹ và được công đức phúc lợi thù thắng. Không nên đem những y phục tốt đẹp mà mặc cho người chết, để đem đi tống táng. Vì sao? Vì không có lợi ích vậy”:
Đấy là cái lệ thường làm ngày xưa bên Ấn Độ, đến như hiện đại, thì nên đem di sản ấy mà đổi lấy tiền tệ; để dùng trang nghiêm Phật tượng, ấn tống kinh điển, cúng dường Tăng-già. Và làm những việc như: tế bần phóng sinh, hoặc làm việc gì có ích cho xã hội.
Nhờ những công đức làm việc phúc đó, thì người chết dù đọa vào Ngạ quỉ, cũng được hưởng rất nhiều lợi ích. Trong Kinh Ưu-bà-tắc có nói:”Nếu người cha chết rồi bị đọa vào trong Ngạ quỉ, mà người con vì họ làm những phúc đức, nên biết người cha liền được hưởng thọ. Nếu được sanh lên trời thì họ không nghĩ đến vật dụng trong cõi người nữa. Vì sao? Vì trên cõi trời đã được đầy đủ bảo vật thù thắng vậy. Nếu phải đọa vào Địa ngục, thì thân họ phải chịu bao nhiêu khổ não, cũng không được rảnh rang để nhớ nghĩ, vậy nên không được hưởng thọ. Đọa vào súc sanh, nên biết cũng như thế. Nếu hỏi tại sao ở trong Ngạ quỉ liền được hưởng thọ lợi ích; thì vì người ấy sẵn có lòng tham lam bỏn xẻn, cho nên phải đọa vào Ngạ quỉ. Nhưng khi đã làm Ngạ quỉ thường hay hối hận tội lỗi ngày trước, suy nghĩ muốn được lợi ích, bởi thế cho nên được hưởng”.
Đấy là nói rõ chỗ lợi của quỉ thú, còn đối với công phu làm việc phúc thật không luống uổng; vì không những kẻ chết được hưởng, mà bà con hiện tại cũng chung phần được hưởng. Như trong kinh nói:”Nếu như kẻ chết đã thác sinh vào các đạo khác, nhưng còn bao nhiêu bà con còn đọa trong Ngạ quỉ; nếu có làm việc phúc, tức thì cũng đều được lợi ích. Vậy nên, người có trí, nên vì Ngạ quỉ mà siêng năng làm việc công đức”.
Trong khi lấy di sản của kẻ chết mà làm việc phúc đức, để cứu độ cho họ; trước hết phải xét rõ người ấy lúc còn sống, tính họ có bỏn xẻn hay không, thì khi thấy được bà con đem đi di sản mà làm Phật sự hay bố thí, tất họ thấy vật dụng của họ bây giờ thành sở hữu của kẻ khác, liền sanh lòng giận hờn tiếc nuối. Nhân đó mà khởi lên tà niệm, liền bị nghiệp lực dắt vào ác đạo. Cho nên Thiện tri thức hay là gia quyến của họ phải khai thị trước, nên nói bên tai người đang hấp hối, hoặc Vong Linh những lời như sau đây 7 lần:
* Cách 1 (với người không được hộ niêm):
“Đây là của cải do người (tên họ:…….) tích lũy trong khi còn sống. Nay người đã chết, không thể mang theo. Ta vì người sẽ đem nó làm việc Bố Thí, Cúng Dường. Nguyện nhờ Phước lực này mà Người và hết thảy chúng sanh đồng được sanh về cõi lành, gần gũi Chư Phật, Bồ Tát và Chư Thượng Thiện Nhơn, không còn phải bị cảnh bôn ba vất vả, tranh đấu với đời để lo miếng cơm manh áo”.
* Cách 2(với người được hộ niêm):
“Người tên… nay ta vì Người mà đem di sản của Người làm Phật sự hay làm việc phúc đức, làm như thế, tức là của cải hữu lậu làm việc vô lậu, nhờ ở công đức này, sẽ được siêu sanh Tịnh độ. Người phải chăm lòng thành kính niệm Phật A Di Đà cầu Ngài đến cứu độ cho. Đối với di sản cần phải rời bỏ chớ nên bận lòng, phải hoàn toàn không mến tiếc tham đắm đê tiện mới được. Vì những thế tài (tài sản thế gian) dù có hoàn toàn để lại cho Người, Người cũng không thể thọ dụng được nữa. Như thế, đối với Người nó đã thành vô dụng rồi vậy”.
VIII.Khách Phúng Điếu:
Phẩm vật cúng hoa tươi, có thể thêm trái cây.
Khi đọc Ai Điếu, nên chú ý giá trị thực dụng, không mang nặng hình thức nhằm đẹp mắt.
Tốt nhất ngoài Tang Quyến và bạn bè mang tính đại diện tặng vài lẵng hoa và vài bức hoành, đối để biểu thị thương tiếc ra, không cần phô trương rình rang.
Chúng ta là Phật tử khi đi Cúng Đám Ma, thì nên ăn mặc chỉnh tề, y phục Đen hoặc Trắng hay Lam, Đà; chớ không nên mặc đồ màu. bông hoa sặc sỡ như đi Đám Cưới thì thật là bất lịch sự.
Nếu phúng điếu bằng Tiền, thì phải bỏ vào Bao thư, đặt trên Đĩa tại Linh Sàng, rồi nói vài lời với Chủ Tang xin chia buồn và Phúng điếu (Nếu nhà tang không nhận điếu; thì ta nên mua hương đèn hoa quả đến cúng).
Khi cúng, tiếp Nhang đến trước Bàn Phật: Xá Phật 3 Xá, rồi cắm Nhang, sau đó lạy Phật 3 lạy. Tiếp Nhang lần nữa khấn vái trước Quan Tài (Bàn Linh), cắm Nhang vào Lư Hương xong, nghiêm chỉnh lạy 2 lạy (Vì Linh Thể còn kể như là Sống), rồi Xá 3 Xá lui ra từ từ; nét mặt lúc nào cũng nghiêm nghị tỏ ý thương tiếc người quá cố. Không được nói cười toe toét, cử chỉ nghinh ngang trong Đám Tang.
Bạn bè khi đến Phúng điếu chia buồn, nên chắp ta Xá 3 Xá trước Bàn Linh và nên phụ giúp Hiếu Quyến niệm Danh Hiệu Phật là tốt nhất hơn cả. Nếu đại diện toàn thể đến Phúng điếu, có thể thắp hương đưa cho họ. Khi Tang Quyến đáp tạ, đại diện đoàn thể đứng bên bàn cũng chắp tay Xá 3 Xá để đáp lễ.
IX. Đưa Đám:
Thân bằng quyến thuộc vì ân nghĩa, cảm tình với nhau nên phải đi đưa người thân lần cuối cùng đến nơi an nghỉ ngàn thu.
Phần nhiều hay lựa vào các giờ từ Thìn, Tỵ và Ngọ (tức là khoảng 8 giờ Sáng đến buổi Trưa) trừ ra những giờ không hợp với Vong ngụ ý để thuận tiện cho việc ma chay khỏi bị trễ buổi tranh tối tranh sáng, làm lễ Cúng Cơm (Tế Ngu) không kịp buổi Chiều.
Khi đưa Linh Cửu an táng nên tránh việc cử nhạc Tây, nhạc Tàu hay múa Lân, đánh động v.v… không thích hợp với không khí Đám Táng. Nếu nhà nghèo thì chỉ cần mượn cái Trống Chầu và 1 Đồng La để đánh lên khi hành lễ mà thôi, hoặc nếu không có cũng không bắt buộc.
Khi Đưa Đám, hàng ngũ nên giữ ngay ngắn, trang nghiêm, yên lặng. Tốt nhất là mọi người nên niệm Thánh Hiệu”NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”trong suốt đoạn đường đi.
Khi khiêng Quan Tài, quyến thuộc nên tham dự và nhất tâm Niệm Phật, vì đây là cơ hội cuối cùng phục vụ người quá cố. Đức Phật còn khiêng Quan Tài Vua Cha, đệ tử Phật nên học theo gương này để biểu thị lòng Hiếu Kính.
* Thỉnh Người Xuất-Gia đưa đám:
Thật ra khi Đưa Đám không cần phải rước nhiều Chư Tăng, chỉ 1-2 Thầy là đủ đưa ra Mộ để tụng Hạ Nguyệt mà thôi. Chư Tăng chỉ tụng Kinh để độ Vong Linh siêu thoát trong lúc Quan Tài còn để tại nhà. Còn an táng là đưa xác đến phần mộ không phải là phận sự của Chư Tăng; nên không cần rước đông.
Có nhiều người hiểu lầm, lúc Tang Lễ tại nhà không thành tâm tụng niệm, chỉ giao khoán cho Quý Thầy tụng dùm, còn đến ngày Di Quan thì muốn rước thật nhiều Thầy đặng diễn hành ngoài đường cho thiên hạ khen là nhà có Phước được nhiều Thầy Chùa đi đưa. Những vị Chơn tu ít ai đi đưa như vậy, trừ ra đam tang của Chư Tăng, Ni thì vì tình đồng đạo, nghĩa linh sơn cốt nhục nên mới đi đưa đông đủ. Có những Thầy đi đưa đám ma lại đội mão, đắp y hồng cầm tích trượng đi diễn hành ngoài đường cho người ta chụp hình quay phim giống như hát bội, thật là lố bịch, làm mất thể thống của người tu, làm giảm giá trị của Phật giáo.
* Cách hành xử của Tang Quyến với Người Xuất-Gia đưa đám:
Đến ngày an táng, Chư Tăng hườn Kinh để chuẩn bị phát hành Di Quan, người đặc trách phải lo sắp xếp xe cộ chở Chư Tăng đi tiếp dẫn phía trước Quan Tài. Khi ra khỏi cửa ngỏ, để quan tài lên xe thì Chư Tăng cũng lên xe ngồi đưa đi chớ đừng để Chư Tăng đi bộ một đoạn đường dài như thân bằng quyến thuộc đi đưa tiễn. Ví như Cha Mẹ được mời lên xe ngồi chớ không để đi bộ vì sợ Vong Linh của con mang tội bất hiếu, thất lễ. Còn như Tăng, Ni là Bậc Tăng Bảo mà hàng Phật tử quy y kính trọng làm Thầy thì sự kính đó còn hơn Cha Mẹ, lẽ nào lại để cho Tăng đi bộ đầu trần dưới ánh sáng thiêu đốt mệt nhọc như vậy, chẳng những Gia Chủ không được Phước mà còn mang tội là khác nữa. Trừ phi chỗ nào không có đường đi vô được phải đi bộ thì phải có người đi theo che dù cho Chư Tăng, Ni khỏi nắng mưa.
Khi tới Phần Mộ: Vị phụ trách mời nước giải khát cho Chư Tăng, Ni và Ban Hộ Niệm, vì trên đường Đưa Đám quý vị luôn niệm Phật tiếp dẫn.
X. Lễ An Táng – Lễ An Sàng – Lễ An Vị Mộ:
1. Lễ An Táng:
Nếu có Người Xuất-Gia chủ trì Lễ An Táng, thì mọi việc do vị ấy xử lý, bằng không thì Hiếu Quyến và bạn bè Hộ Niệm, sau đó đưa Quan Tài vào chổ Hoả Táng hoặc Hạ Nguyệt.
* Hoả Táng:
Đối với người Tây Tạng, họ đã nghe các vị Lạt Ma giảng giải từ tấm bé rằng thân xác của mỗi con người là vật tạm bợ như bộ áo quần để mặt mà thôi – khi chết giống như là cởi bỏ bộ áo quần cũ đi đầu thai chuyển vào một sinh mệnh mới như mặc bộ đồ mới khác. Chỉ cần quan sát xác thân một người chết bên bờ bịu không ai thừa nhận lâu ngày tan rã tỏa mùi hôi hám thì sẽ thấy rõ cái xác thân chỉ là cái tạm thời. Do đó khi chết người Tây Tạng thường hỏa táng xác chết – Cái thây người chết được xem như biểu tượng của tất cả nghiệp ác – Nên khi thân xác bị lửa thiêu cháy thì những nghiệp ác tiêu tan.
Theo niềm tin của phần lớn người Đông phương thì khi chết phần lớn người chết vẫn còn mơ hồ chưa biết là mình đã chết – Vì thế họ thường quay trở lại nhà và sống như lúc đang còn sống mặc dù người thân chẳng thấy chẳng biết có họ hiện diện. Có khi họ mượn tạm xác thân đã chết để hiện ra trong chốc lát mà người sống khi thấy hoảng sợ và gọi là Ma. Kinh nghiệm dân gian cho thấy ở những nơi xảy ra tai nạn chết người”hồn”người chết thường hiện ra với bộ quần áo họ mặc lúc bị tai nạn. Vì lý do đó mà khi chết nên thiêu xác để người chết không thể mượn xác thân của mình để hiện ra nữa hoặc không còn quyến luyến cái thân xác cũ nữa…
Một số vị Đại Sư còn cho rằng: khi chết thân xác sẽ dần dần tan rã, dù đem chôn thì lâu ngày xác thân cũng bị các loài vi sinh vật đục khoét biến dạng rất ghê rợn – Do đó chỉ có thiêu xác là tránh được nhiều điều không hay.
Người Âu Mỹ trước đây không nghĩ tới vấn đề thiêu xác khi chết, những ngày nay nhiều người đã nhận thấy ít nhất là về mặt vệ sinh, thực tế thì việc thiêu xác tốt lành thuận lợi hơn chôn cất xác chết rất nhiều – việc duy trì bảo quản hoặc phải di chuyển cũng dễ dàng, ít tốn kém… Mới đây, trong năm 1999 John F Kennedy Jr, vợ và chị vợ bị chết vì tai nạn phi cơ đã hỏa thiêu theo truyền thống Phật giáo và công chúa Margaret cũng yêu cầu được thiêu xác mình chớ không chôn khi bà mất vào năm 71 tuổi. Dù người thân qua đời ta thương quý đến mấy cũng không thể chôn cất trong vườn nhà để được gần gũi.
Khi Quan Tài được đưa vào Lò Thiêu, thân nhân và người đi đưa đám đứng ở ngoài nơi thiêu để tụng Kinh trong vòng 1 tiếng đồng hồ ấy:
– Nếu là Thiền Tông, thì sẽ tụng Bát Nhã và Tứ Hoằng Thệ Nguyện.
– Nếu là Tịnh Độ Tông Hoặc Tịnh Độ Chơn Tông thì sẽ tụng Kinh Di Đà, và Niệm Phật.
– Nếu là Mật Tông, thì trì Chú và tụng Chú Vãng Sanh. Còn theo Mật Tông Tậy Tạng, Câu Thần Chú giúp xóa tan ác nghiệp của người qua đời đang rực cháy trong lửa là OM VAJRA SATTIVA HUM (ý nghĩa của câu chú là mong mỏi Thần Kim cương tát đõa chuyển hóa Ác Nghiệp…). Ngoài ra có một câu chú khác giúp người chết không bị mê mờ u tối lạc vào 6 nẻo luân hồi – Câu chú đó là A A HA SHA SA MA.
Sau khi thiêu xong, có thể thu nhặt tro cốt bỏ vào hủ, đem hài cốt về Chùa hay Tịnh Xá thờ cúng trong Tháp (Không nhất thiết phải lập Bài Vị). Cũng có người đem hài cốt chôn xuống đất lập Mộ ở Nghĩa Trang. Khoảng 5 năm sau tro cốt được thờ nên đem rải trên biển là tốt nhất.
* Hạ Nguyệt:
Khi đến Mộ Phần, Linh Cửu được đặt tại miệng Huyệt, vị Pháp Sư hoặc vị Cao Tăng làm Lễ Trị Huyệt, và kế đó đi nhiễu Nguyệt (Thông thường Quý Thầy tụng Chú Đại Bi và Thập Chú). Sau cùng thì Quan Tài mới được hạ nguyệt do những Đạo Tỳ phụ trách. Hạ Nguyệt đàng hoàng thì các con cháu, thân thuộc mọi người đều liệng xuống 1 hòn đất hoặc 1 nắm đất-cát để tỏ lòng thương nhớ tới ngưới quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi đang lấp đất, thì Gia Chủ lo bày lễ cúng Thổ Địa (Hậu Thổ) tại nơi đó, để cho Thần hợp với Vong. Công việc xây Mã, hay Mộ Bia đã có thân nhân làm để đánh dấu khỏi lạc Mồ.
2. Lễ An Sàng:
Khi an táng xong, rước Vong Linh về nhà làm Lễ An Sàng, có nghĩa là an toạ Linh Sàng, là đặt Linh Vị lên Bàn Thờ chớ không phải tổ chức để ăn sàng là bắt buộc làm tiệc đãi bà con.
3. Lễ An Vị Mộ:
Sau khi an táng 3 ngày, thì đi An Vị Mộ chớ không phải Mở Cửa Mã, do đó không cần con Gà hay Tam Sên (Người không biết cho Tam Sên là 3 món: thịt heo luộc, hột vịt luộc và tôm luộc). Chỉ nên mang theo nhang đèn, bánh trái, nước để cúng mà thôi.
Không có vấn đề Mở Cửa Mã mà chỉ có Lễ An Vị Mộ. Tức là sau khi chôn cất 3 Ngày, con cháu trở ra ngoài Mộ thăm viếng và đắp sửa phần mồ cho chu đáo hơn, vì trong ngày an táng giao cho Đạo Tỳ lắp đất, Tang Quyến phải rước Vong trở về nhà An Sàng, sợ e Đạo Tỳ làm không kỹ lưỡng, do đó mới ra thăm Mộ sửa sang lại. Đồng thời làm lễ cúng vái tỏ lòng nhớ thương, lễ này Gia Chủ tự cúng vái chớ không cần phải rước Thầy đến tụng niệm chi cả. Hơn nữa, hôm an táng xong đã rước Vong về nhà An Sáng rồi thì đâu còn hồn nào dưới Mộ mà phải đi Mở Cửa Mã cho lên. Không cần đưa theo Gà, Mía gì cả vì đó là hình thức tượng trưng của Đạo Nho. Đạo Phật chỉ chú trọng vào thực tế con cháu có thật lòng thương nhớ người chết hay không? Nếu có thì hãy làm các việc Phước điền như cúng dường, bố thí, phóng sanh.v.v….để hồi hướng cho người chết công đức được lợi lạc thì mới tốt, ta không nên bắt chước hình thức giả dối bên ngoài. Khi trong lòng không chút nhớ thương, như vậy rất là vô lý.
* Xây Mộ:
Người đời thường nói:”Sống có Nhà, Chết có Mồ”vì cho rằng khi Sống thì ở trong Nhà, mà khi Chết thì Vong Hồn ở ngoài Mộ, nên họ cho xây Mộ thật đẹp, thật chắc chắn để cho Vong Hồn ở mãi trong Mộ đó. Đây là 1 sự hiểu lầm, chấp chặt vào cái Ta và cái của Ta rồi cứ quyến luyến mãi không siêu thoát được mà cũng không chắc người chết có thể ở mãi ngoài Mộ. Vì nếu lúc sanh tiền tạo nhiều Nghiệp Ác thì họ phải bị đoạ vào 3 đường Khổ, hoặc có Phước thì siêu thăng chớ đâu có ở mãi nơi ngôi Mộ. Trong Kinh có câu:
“Vị qui tam xích thổ nan bảo bá niên thân
Ký qui tam xích thổ nan bảo bá niên phần”
Nghĩa là: Lúc còn Sống không thể bảo toàn cho thân mình sống tới 100 tuổi, đến khi Chết rồi khó gìn giữ Mộ Phần đến 100 Năm.
Ví dầu có xây Mộ tốt đẹp đến đâu, khi có lệnh phải Bốc Mộ dời đi nơi khác, thì phải đành đạp nát ngôi Mộ, moi xác đem đi, như vậy xây cất mồ mã quá tốt có ích gì đâu? Theo đạo Phật thì vì muốn giữ gìn ngôi mộ khỏi bị loài vật ủi phá nên phải xây các khuôn Mộ chung quanh bằng Gạch hay bằng Đá và dựng Mộ Bia cho biết dấu tích mà thôi chớ không cần chạm trổ quá tốt, quá tốn hao. Điều tốt nhất là nên Hoả Táng, rất sạch sẽ, ít tốn kém, rất tiện lợi, nhưng cần phải tuân theo Di Chúc của Người Chết, nếu họ sợ thiêu thì thân nhân đừng cãi lời tránh làm cho Vong Linh bị đau đớn khổ sở. Nếu họ chịu thiêu thì nên thiêu rất tốt, bằng không thì Thổ Táng theo thông thường.
XI. Cúng Dường Thập Tự:
Sau Lễ An Vị Mộ, Tang Gia nếu có khả năng thì đi cúng dường Thập Tự (10 Ngôi Chùa) để Cầu Nguyện cho Hương Linh mau siêu thoát.
* Phẩm Vật cúng dường Thập Tự:
1 thẻ Nhang.
2 cây Đèn Cầy Đỏ.
1 bao thư Tịnh Tài (Tiền).
Với 1 tờ Giấy ghi tên họ tuổi và Ngày quá vãng của Người chết.
XII.Hậu Tạ và Đáp Lễ:
1. Cúng dường cho Chùa: Sau Lễ An Táng, là Lễ An Vị Mộ; thì Tang Gia nhớ cử người đại diện đi Tạ Lễ các Chùa đã đến Hộ Niệm cho Vong Linh của Thân Nhân mình.
*Phẩm Vật Tạ Lễ các Chùa: Hương, Đăng, Hoa, Quả, (1 thẻ Nhang và 2 cây Đèn Cầy Đỏ) và 1 bao thư để chút Tịnh Tài (Tiền) cúng dường Tam Bảo.
2. Cúng dường Chư Tăng, Ni:
Phải chuẩn bị Phẩm Vật cúng dường Chư Tăng, Ni: Tốt nhất là do Người chết để lại, hoặc chọn các thứ như những vật thường dùng của nhà tu theo Hạnh Đầu Đà, Thuốc Thang, Toạ Cụ, Cà Sa, Giày, Tích Trượng, Gậy, Mão, Bình Bát, Kinh, Luận, Sà-Bông, Khăn Tắm hoặc Tiền Bac v.v… Tuỳ theo giàu nghèo mà chi lớn nhỏ, rộng hẹp, chớ câu nệ hoặc e ngại. Đừng vì người khen mà làm.
Nếu muốn đến đáp Công Đức của Chư Tăng, thì xin quý vị nên Quy Y Tam Bảo, giữ gìn Ngũ Giới, ủng hộ Chùa Chiền, kính trọng Tăng, Ni; thì đó là cách đền đáp hữu hiệu và thiết thực nhất của Người Phật tử Chơn Chánh.
3. Cúng dường cho những Người đến Hộ Niệm:
Những Người đến Hộ Niệm, ta nên vì Người chết mà cúng dường cho họ. Nếu họ không nhận, thì nên vì Người chết mà lễ tạ 3 xá.
4. Hậu Tạ và Hổ Trợ cho những Người giúp cho việc Tống Táng:
Những Người giúp cho việc Tống Táng, thì thân nhân cũng nên vì Người chết mà chiêu đãi tử tế, và giúp cho tiền bạc, cùng phẩm vật mà hội”Đạo Tỳ”yêu cầu chẳng hạn như: Sà-Bông, Khăn Tắm, Lược Chảy, Dây, Đòn Gánh v.v…

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s