LUẬN VĂN

 

DÀN BÀI

 

A.DẪN NHẬP

B. NỘI DUNG

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. 1 Định nghĩa

1. 1. 1. Vọng

1. 1. 2. Văn

1. 1. 3 Vấn

1. 1. 4 Thiết

2. ỨNG DỤNG

2. 1. Cuộc  sống

2. 2. Công tác hoằng pháp

3. NHẬN ĐỊNH VÀ ỨNG DỤNG

3. 1. Ưu điểm

3. 2. Khuyết điểm

C. KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHẢO

1 . Phục Hồi Chức Năng, tác giả BS Võ Khai Nghiệp,NXB Bộ Y Tế, Trường Y Dược TPHCM thưc hiện

2. Sức Khỏe & Đời Sống, nhiều tác giả,sản xuất năm 2009

3. Kinh Tăng Chi BộII, ,HT Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1996

4. Tăng Chi Bộ II , Chương 5 , , HT Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1996

5. Việt Nam Phật Giáo sự Luận,tập I, tác giả Nguyễn Lang, NXB Văn Học Hà Nội-2008

 

6. Phật Học Phổ Thông,quyển IV,  tác giả HT Thích Thiện Hoa, , NXB Phương Đông

A . DẪN NHẬP

Mỗi người hiện hữu trên cuộc đời này  đều mang bên mình những chứng bệnh  gọi là nghiệp quá khứ truyền . Bệnh là một nỗi ám ảnh , là niềm đau khổ mà con người từ khi sinh ra đến lúc chết đi không ai tránh khỏi . Nhẹ thì cảm sốt, thương hàn , đau bụng , nhứt đầu… Nặng thì ung thư , ung bướu hoặc những chứng nan y khác. Chính vì có nhiều bịnh như thề nên nhiều bệnh viện chuyên khoa, đa khoa xuất hiện. Ngoài ra còn có các bệnh viện của Đông  Y cũng được xây dưng như Y Học Dân Tộc , Y Học Cổ Truyền… xã hội càng phát triễn thì con người càng mắc nhiều chứng bệnh lạ, do những chất thảy từ những nhà máy thảy ra . Như nhiễm phóng xạ từ các lò phản ứng hạt nhân, những bệnh thuộc về da  do các chất hóa học thảy ra từ các công ty dầu mỏ , hay bị ô nhiễm từ chất thảy ra của công ty Bột Ngọt VEDAN , những khói xăng tử những chiếc xe tải cũng góp phấn làm không khí ô nhiễm. tầng khí quyển dang bị ô nhiễm. Vỏ trái đất ngày một nóng lên do sức nóng của mặt trời , những tảng băng lớn ở Bán cầu Bắc bắt đầu tan ra gây lũ lục khắp nơi trên thế giới . Thế giới đang bị báo động, trái đất này sẽ chìm trong biển nước, những đợt sóng thần cuồn cuộn nỗi lên cuốn trôi đi tất cả mạng sống , tài sản những của cải quý hiếm..… Tất cả những thứ ấy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Con người đang sống trong sự nguy cấp và con người sẽ mắc nhiều chứng bệnh lạ, nó luôn hành hạ con người làm cho con người muốn sống không được, chết cũng không an . Bệnh thì nhiều vộ lượng, nhưng chung quy thì có hai loại bệnh  là bệnh thuộc về thân và bệnh về tâm. Nên trong Kinh Tăng Chi Phật dạy : “ Này các Tỳ Kheo có hai loại Bệnh . Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm[1]”. Xã hội hiện nay Y học tiến bộ không ngừng nên những căn bệnh hiểm nghèo nan y thuốc về thân đã có thuốc cứu. Tuy nhiên dù có giỏi đến đỉnh cao của Y học thì các bác sĩ vẫn không thể nào trị nỗi các bệnh thuộc về tâm . Vì tâm con người không nằm ở một trạng  thái mà nó luôn xoay vầng với các chiều hướng ghét, thương; buồn vui, ganh tỵ … biểu hiện của tham- sân –si. .Nên tâm ấy trở nên tann1 loạn , không tự kiềm chế, không làm chủ được bản thân,nó thuộc vô hình. Các bác sĩ , thầy thuốc chỉ có thể trị được nhửng chứng bệnh có hình tướng cụ thể, còn những thứ thuộc vô hình thì họ buộc phải bó tay. Hiện nay số người mắc street rất nhiều. Có biết bao người chết vì tâm bệnh như tự vẫn vì buồn, tự vẫn vì khổ, có người chết vì uất hận… tất cả những vấn đề ấy là những vấn đề thật nan giải cho y học. Thật hạnh phúc thay Đức Phật ra đời . ngài đã đem dòng suối pháp tưới mát khắp chúng sinh đang chìm trong bể khổ. Đức Phật ra đời muc5di9h1 là đem lại an lạc cho chư thiên và loài người” . từ đây những căn bệnh thuộc về tâm 9a4 được Đức Phật nghiên cứu và mổ xẻ. Ngài đã tùy bệnh tham sân si của chúng sanh mà ban cho những phương thuốc đặt trị . Để thuận cho việc hoằng pháp lợi sanh, đem đạo vào đời bằng phương pháp trị liệu , người hoằng pháp vừa là vị lương y phải biết vận dụng Phật pháp cùng phối hợp y học như thế nào để điều trị hai thứ bệnh thân và tâm cho con người được khỏi hẳn. Đây là một trách nhiệm khá nặng nề đối với những người mang trọng trách hoằng pháp hôm nay. Tứ Chẩn là bốn phương pháp hữu hiệu mà ta có thể sử dụng trong việc hoằng pháp lợi sanh .Chính vì thế người viết chọn đề tài “Ứng dụng phương pháp Tứ Chẩn trong Y Học Cổ Truyền vào cuộc sống tu tập và công tác hoằng pháp”. Bệnh nhân có vượt qua những căn bệnh tật hay không đều tùy thuộc vào người thầy . Chúng ta những  sứ giả củ Như Lai, những người thầy đầy nhiệt quyết với tâm từ ái thương chúng sanh như con mình với lương tâm người thầy “lương y như từ mẫu”. Để giúp người đọc hiểu rõ về bốn phương pháp này , người viết củ yếu dùng ngòi bút định nghĩa và dẫn chứng. Vì tời gian có hạn cho nên thêm kiến thức người viết thì quá kém về y học nên không sao tránh khỏi những sai lệch , cuối xin trên giảng viên hướng dẫn vui lòng chỉ ra những điều sai để bài viết sau được tốt hơn.

B. NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận

1.1 Định nghĩa

Tứ Chẩn là một phương pháp chẩn đoná bệnh theo phạm trù Y học, là chẩn đoán bệnh, chẩn đoán đúng thì trị bệnh mới đúng, đó là bốn phương pháp.  Nhìn , Nghe, hỏi , sờ nắn, bắt mạch. Bốn phương pháp này là một quá trình thăm dò và tìm ra được bệnh án của bệnh nhân.Vậy bốn phương pháp ấy ra sao ta hãy đi vào chi tiết.

1.1.1 Vọng(nhìn)

Vọng là nhìn , là quan sát bằng mắt. Quan sát tỉ mỉ thần, sắc, hình thái, mặt, lưỡi… của người bệnh một cách tổng quát từ đầu đến chân. Nó sẽ giúp thầy thuốc sơ bộ thấy cần đi sâu, nắm vững những vấn đề gì để biết được tình hình bệnh tật trong cơ thể bệnh nhân phản ánh ra ngoài. Y học cổ truyền rất chú trọng đến việc xem xét các bộ phận ở mặt, mắt, lưỡi… vì có quan hệ nhiều với các tạng phủ.Ví dụ: Ví dụ ta nhìn thấy bệnh nhân có da màu đỏ gương mặt bơ phờ ,biết người này bị sốt cao , thần yếu, phải cho thuốc hạ nhiệt.

1.2. Văn( nghe và ngửi)

Văn là ta nghe những lời khai bệnh từ miệng bệnh nhân hoặc từ người nhà của bệnh nhân . Trong lúc nghe kể bệnh ta ngửi xem mùi hôi từ phòng bệnh hoặc từ cơ thể bệnh nhân. Ví dụ : Người bệnh thuộc Tỳ khi nói chuyện, miệng toát ra mùi hôi nặng.

1. 3 Vấn( hỏi):.Là những lời ta hỏi những điều chưa rõ , có liên quan đến bệnh trạng của bệnh nhân. Hỏi bệnh ngoài những nội dung thường quy như tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, thói quen, gia đình, quá trình bệnh và đã điều trị …. phần hỏi đặc thù của y học cổ truyền để phân định được hư thực, hàn nhiệt, tạng phủ…..

Ví dụ: sau khi hỏi về bệnh ta có thể hỏi thêm trước đó có bệnh gì khác không? hay hỏi có triệu chứng gì khác nữa không?  ….

1. 4 Thiết ( sờ nắn và xem mạch) khâu cuối cùng trong tứ chẩn làThiết tức cắt mổ xẻ để phân tích. Đây là nhằm tập hợp đầy đủ các triệu chứng, giúp cho việc chẩn đoán bệnh được toàn diện. Gồm có 2 phần : sờ nắn (Án chẩn) và xem mạch (Mạch chẩn). Xem mạch chủ yếu là biết vị trí bệnh đang ở biểu hay ở lý, tính bệnh hàn hay nhiệt, tình trạng hư thực của khí huyết và tạng phủ . Sờ nắn để tìm xem vị trí và tính chất của bệnh, thường xem tại da, thịt, tay chân và bụng.

Tiến hành bắt mạch

-Người bệnh ngồi ghế, để tay lên bàn, ngang ngực, trên một gối mỏng, hoặc nằm ngửa, tư thế thỏai mái. Bệnh nhân đến khám cần được nghỉ 5- 10 phút trước khi xem mạch.

Thầy thuốc ngồi đối diện, tay phải bắt mạch tay trái của bệnh nhân, sau đó tay trái bắt mạch tay phải bệnh nhân. Ngón tay giữa đặt vào bộ quan ngang với mỏm trâm xương trụ, ngón trỏ đặt vào bộ thốn, ngón nhẫn vào bộ xích..

Tập trung tư tưởng, thoạt đầu ngón tay đặt nhẹ lên mạch ( khinh án ) rồi ấn nhẹ (trung án) sau đó ấn mạnh (trọng án). Lúc đầu xem tổng quát cả 3 bộ ( tổng quan) để biết tình hình chung: biểu lý, hàn nhiệt, hư thực của bệnh, sau đó mới xem từng bộ vị để biết tình trạng của từng tạng phủ.

.2. ỨNG DỤNG

2. 1 Cuộc sống tu tập

Đã mang thân người thì không ai không có bệnh cả , đều quan trọng là ta có chấp nhận nó hay không. Vì xu hướng của con người luôn chấp thủ và luôn mong mỏi mình không được có bệnh, đó là điều si lầm lớn nhất của nhân loại. Nên một trong mười bốn điều Phật dạy là : “Nghĩ đến đến thân thể đừng mong mình không bệnh, vì không  bệnh sẽ sinh ngã mạn”. Đây là Phật muốn day ta về một loại bệnh mới đó là tâm bệnh . Thật vậy trên đời này ai cũng có mang bệnh , không ai tránh khỏi cả, có chăng là bệnh hẹ hay nặng ở mỗi người mà thôi . về bệnh ta có thể chia làm hai. Bệnh thuộc thân và bệnh thuộc về tâm . Mỗi loại bệnh đều có cách trị riêng. Về thân bệnh đã có y học. Đức Phật là một đại Y Vương Ngài rất chu đáo và quan tâm đến sức khỏe và đời sống tăng đoàn. Để cho có sức khỏe Ngài đạy các Tỳ kheo năm pháp làm gia tăng tuổi thọ như sau: “ Này các tỳ kheo có năm pháp làm gia tăng tuổi thọ. Thế nào là năm?Làm việc thích đáng, biết vừa phải trongvie65c thích đáng, ăn các đồ ăn tiêu hóadu hành phải thời và sống phạm hạnh. Năm pháp này, này các tỳ kheo làm gia tăng tuổi thọ”[2]. Ta thấy hiện nay trê thế giới có nhiều chứng bệnh sinh ra do ăn uống không đúng cách , như bệnh béo phì, hoặc những chứng bênh do sống buông thả, vô độ… gây ra rất nhiều bệnh  tạo thành những nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Hơn ai hết Đức Phật đã nhận biết điều ấy và bằng phương tiện huyền sảo Ngài chế ra những giới luật cấm ăn chiều, ăn chay, sống thiểu dục tri túc, hoặc cấm những việc thuộc phạm hạnh ,cấm làm những nghề không lương thiện… Nếu đứng về phương diện tu tập thì những lời dạy ấy giúp ta được nhẹ nhàng bổn nghiệp , không bị những quả báo luân hồi. Còn đừng về mặt Y Học thì, ăn chay giúp con người ít tăng độ mỡ, máu không cao. Không ăn chiều thì  thân thể nhẹ nhàng không phải mệt nhọc khi ngồi  thiền. Sống buông thả khiến sức khỏe con người rất hao mòn. Vua Lê Ngọa Triều sở dĩ mất sớm  là vì ông sống vô độ dâm dục quá nhiều đưa đến liệt dương nên yểu mạng. Lối sống buông thả là một lối sống thiếu đạo đức , thiếu nhân cách. Lời Phật dạy thật có nhiều chủ ý nếu nhìn một chiều thì chưa đủ hết ý nghĩa Lời Phật dạy. Chúng ta những người mang danh hiệu là những sứ giả d0em lại hòa bình hạnh phúc cho chúng sanh. Hơn ai hết ta phỉa là những người đi đầu trong việc thực hành lới Phật dạy, sống biết đủ không tham đắm những dục lạc. Để cho sức khỏe được dồi dào ta phỉa thường xuyên tập luyện thân thể . trong nhà Phật có một phương pháp hành thiền rất hây dó là phương pháp đi kinh hành . Phương pháp này giúp hành giả có sức dẻo dai , có sự kham nhẫn tốt, mau tiêu hóa thức ăn … phương pháp này rất hữu hiệu đối với mọi người và hiện nay thế giới khuyến khích người đi bộ để đạt sức khỏe tốt. Đó là nói về cách trị bệnh thân của người con Phật . Một điều thú vị khác mà thế giới này thậm chí y học hiện nay rất tối tan cũng không thể nào trị được đó là “tâm bệnh” . Trong cuộc sống tu tập ta phải luôn sửa tâm mình cho thật thuần thục. Tâm là một bệnh rất khó trị vì nó không có hình tướng, nó thuộc tinh thần , nhưng sức công phá của nó rất mãnh liệt. Con người có thể vì nó mà bị hủy hoại , xã hội ngày nay số người mắc bệnh trầm cảm , hoặc stress rất nhiều do không khống chế được tâm mình. Đức Phật đã tùy tâm bệnh của nhân sinh mà cho thuốc. Người nào tham nhiều Phật dạy pháp bố thí , ly tham. Người nào sân giận nhiều Phật cho thuốc từ bi , cứu giúp người. Người nào si mê nặng Phật dạy thiền định hầu làm cho tâm không tán loạn được định tỉnh . Như vậy đối với người hoằng pháp là có đủ những phước báo hơn người thế gian rất nhiều, vì ta được truyền thụ giáo lý căn bản của  Đức Phật truyền lại như giáo lý Vô Thường, vô ngã, duyên sinh, giáo lý tứ Đế…. Thực hành tất cả những giáo lý ấy ta có được một cuộc sống an lành hạnh phúc vì hiểu được cuộc đời này không có gì là thực thể , thân này sẽ không tồn tại mãi mà nó sẽ theo luật biến hoại của vô thường. Nó có đây là do nhân duyên hợp lại , khi hết duyên thì nó sẽ rã tan biến hoại . Biết được rồi ta không chấp vào thủ vào nữa. Đau khổ lớn nhất của đời người là chấp thủ thân này là tôi, và tự ngã của tôi. Thật ra không có gì trong năm uẩn ,bốn đại này là của ta cả vì nó không có thật thể nên ta không thể bắt nó trường tồn. Ta khát khao mong khỏe mạnh nhưng nó luôn lạnh lùng từ bỏ ta ra đi, vận hành theo sự bệnh già và cuối cùng rồi chết. Nói trăm năm chớ có mấy ai sống đến trăm tuổi. Ta phải quán sát như vậy mới có thể để thấy rõ rằng không chỉ có thân thể mà ngay cả trong nhận thức ,tư duy của ta cũng không có chủ thể. Khi thấy rõ như vậy , thì dù thân thể ta có theo năm tháng biến hoại , mục nát ta cũng ung dung tự tại giữa cuộc đời này, mà không sầu bi ưu não. Như Vạn Hạnh Thiền sư nói về thân khi sắp thị tịch:

“ Thân như bóng chớp chiều tà,

Xuân qua tươi tốt, thu sang rụng rời          

Xá chi hưng thịnh việc đời

Thịnh suy như giọt sương phơi dầu cành”.[3]

2. 2. Công tác hoằng pháp 

Thế giới hiện nay là một thế giới đầy phức tạp con người bị chi phối rất nhiều vì những sinh hoạt , kinh tế,  chính trị , môi trường… tất cả những vấn đề ấy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.Trách nhiệm người hoằng pháp là phải đem chánh pháp truyền bá khắp thế gian. Làm cho con người bớt đi sầu khổ bởi bệnh tật , giúp họ thoát khỏi mọi nguy hiểm của bệnh tật. Người hoằng pháp phải là người tuyên phong triển khai mọi biện pháp để đem đạo vào đời. Nếu không thì Phật pháp sẽ bị mai một .Như lời Hòa Thượng Thiện Hoa nói :   Nếu người hành đạo cứ giữ vững lề lối cũ , không có những phương thức hoằng pháp thích hợp với xã hội mới , không có những khả nang8thich1 hợp với các ngành hoạt động trong xã hội thì Đạo Phật sẽ mất dần ảnh hưởng và không giữ vai trò lãnh đạo của mình nữa”[4].

Với tư cách là người thầy tâm linh cho chúng sanh, ta hãy là người dẫn đầu trong việc thực hành giáo pháp Phật dạy. Ta hiểu được rằng đã mang thân người thì không ai không mang theo những nghiệp lực từ quá khứ . Nếu người nào nghiệp nhẹ thì người ấy ít mang bệnh tật nơi thân,  nhưng chắc chắn họ sẽ mang bệnh khác ở tâm như bệnh hay sân, hay giận, hoặc hay si mê . Có những người thân thể rất khỏe mạnh nhưng vì thích uống rượu đến nỗi thân tàng ma dạy. Xã hội hiện nay thanh thiếu niên chết số lượng rất lớn ngoài những bệnh thông thường còn có những chứng bệnh thuộc si mê gây ra như : ma túy, mại dâm , rượu, bia… Đặt biệt hơn có những cái chết do thất tình , chán nản cha mẹ, anh  em, bạn bè, người yêu …. Rất nhiều và rất nhiều. Là người mang thân phận giáo dục đạo đức cho nhân loại ta phải làm sao để ngăn chặn những điều ấy? Trước hết ta hiểu rằng tất cả những nỗi thống khổ của con người  ai cũng phải vươn mang. Mà nguyên nhân của nó đều do tham – sân – si mà ra . Ba thứ ấy là dòng thác dữ lôi cuốn đi bao lớp trẻ, những thế hệ mầm non của đất nước của nhân loại. Với công tác hoằng pháp trước tiên ta nên đem giáo dục vào học đường, dạy họ bỏ bớt đi những ham muốn cá nhân , biết nghĩ đến những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình . Sống biết đủ thì con người ít tham ăn , không gây nên bệnh béo phì , không bị những chứng ngộ độc khác. Khi đến với người bệnh là ta đến bằng tâm lòng yêu thương, với ý định luôn mong họ hết bệnh. Thành tâm, nhiệt quyết hăng say chẩn sát ,hết lòng vì mọi người từ tốn nhân hậu ,dịu dàng là những đức tính cần thiết người thầy luôn phải thực hiện. Với phương chăm “ hoằng pháp vi gia vụ , lợi sanh vi bổn hoài”. Ta đem hết tâm thành cứu giúp chúng sanh.

3. NHẬN ĐỊNH VÀ ỨNG DỤNG

3.1 Ưu điểm

Đối với việc chữa bệnh bằng phương pháp trị liệu ta đem đạo vào đời . Nước ta hiện nay , Phật pháp đang trên đà rất phát triển, được nhà nước rất quan tâm và ưu đãi . Vì thế việc hoằng pháp khá dễ dàng . Các ngành nghề thế gian được các chùa và các tự viện cho phép Tăng Ni sinh tham gia học tập. Như ngành sư phạm, ngành y… Chùa là nơi tập trung Phật tử đông đúc nhất vì thế rất thuận lợi cho việc mở các phòng thuốc từ thiện , các phòng chăm cứu từ thiện. Cửa chùa luôn rộng mở đón khách thập phương từ khắp nơi đến viếng chùa hoặc trị bệnh miễn phí. Với trách nhiệm người hoằng pháp ta phải biết đem kiến thức y học kết hợp cùng kiến thức Phật học để đem lại niềm hạnh phúc cho nhân loại. Đất nước ta không thiếu những nhân tài ,tuy nhiên tìm được những người vừa biết đạo hiểu đời và biết đem tâm tư mình trãi đến những chúng sanh đang hoằng hoại khổ đau trong tư tướng sanh –trụ – dị- diệt  của định luật vô thường thì thật hiếm có người nào đảm nhận nỗi. Người hoằng pháp với trách nhiệm làm lợi ích cho chúng sanh ta hãy mạnh dạng bắt tay vào cuộc bằng cả tấm lòng vô ngã vị tha. Thương người như thể thương thân. Tuy nhiên trong công tác hoằng pháp với thân phận người tu sĩ thì ta gặp không ích những khó khăn trở ngại. Vậy trở ngại của người hoằng pháp là trở ngại gì ta hãy mổ sẽ phần khuyết sau.

3.2. Khuyết điểm

Tính cách hoằng pháp còn phụ thuộc quá nhiều vào văn tự Phật giáo khiến người nghe khó hiểu. Các tăng Ni luôn bị ngăn trở bởi những điều giới luật . Thật vậy một người thầy hoặc một sư cô rất khó trị bịnh cho người khác phái. Đó là một khuyết điểm rất lớn,dù rằng tâm người trị bệnh lẫn tâm bệnh nhân , dù có trong sáng cách mấy vẫn không sao tránh khỏi những lời thị phi . Nếu không có tiếng xấu tuy nhiên vẫn ảnh hưởng đến vấn đề tu tập.. Kinh phí phải tự túc trong việc tìm thuốc cho bệnh nhân. Người ta sẽ dễ dàng ủng hộ xây chùa nhưng thật khó khi họ ủng hộ một phòng thuốc từ thiện vì sao? Vì tư tưởng người Phật tử luôn nghĩ đến việc xây chùa có phước báo nhiều hơn làm từ thiện. Còn một điểm nữa là người hoằng pháp so về kiến thức thì còn quá kém đối thế gian nhất là Phật Tử thời nay. Họ giỏi cả về mặt thế học lẫn mặt Phật học. Lối giáo dục Phật giáo còn hạng cuộc trong giới hạng tâm linh nhiều quá .Người Phật tử dù có giỏi cách mấy họ vẫn còn xa lạ với Đức Phật. Đây là điểm khuyết của những người truyền giáo không cập nhật thiết thực đưa Đức Phật gần gũi với người Phật tử. Giáo lý Phật tuy phù hợp mọi căn cơ của chúng sanh, nhưng nếu người hoằng pháp không biết uyển chuyển để phương tiện độ người thì giáo lý ấy vẫn là xa lạ đối với mọi tầng lớp người dân. Điều thiết yếu là sự thực hành tu tập của Các vị tăng ni  lại còn kém cỏi nên khó thuyết phục được người. Chính những khiếm khuyết trên đã làm trở ngại cho việc hoằng pháp rất nhiều. Về mặt y học người hoằng pháp với xứ Mạng truyền trao mạng mạch vì thế cần phải chú tâm chiêm nghiệp nhiều hơn, không lơ là qua loa mà phải nhiệt tâm bằng tất cả  trái tim người nhân hậu vị tha thì mới mong đạt kết quả tốt.

C. KẾT LUẬN

Có sinh ắt có diệt, sinh già bệnh chết là quy luật của kiếp người. Dù giàu sang ,nghéo khó, thành công hay thất bại ,thì trãi qua ba vạn sáu nghìn ngày rồi cũng buông hai tay trắng. Điều quan trọng là ta có nhận thức được điều ấy hay không. Khi nhận thức được rồi thì ta có thực hành lời Phật dạy hay không đó lại là chuyện khác nữa. Thật may mắn ta sinh ra biết được Phật pháp hiểu được lý sinh diệt của vũ trụ nhân sinh thì hãy thực hành lời Phật dạy  , hành trì giới luật, tu tập thiền định . Bên cạnh đó ta nên học thêm những nghề nghiệp giúp ích cho đạo và đời .Y Học cổ truyền là một môn học bổ ích cho việc rèn luyện thân thể và giúp ích cho mọi người  , trong đó Tứ Chẩn là một phương pháp hữu hiệu để ta quan sát nghe hỏi và tìm đngú bệnh trạng của bệnh nhân hầu giúp họ vượt qua những cơn bịnh hiểm nghèo.

Vọng( nhìn) phương pháp một , với tư cách một người hoằng pháp vừa là thầy thuốc ta mang hai trọng trách thì ta phải làm sao để đem lại niềm vui sống cho bệnh nhân đó là điều tối cần. Qua cái nhìn ( vọng), người thầy thuốc phải biết nhìn bệnh nhân bằng cái tâm. Nghĩa là nhìn bằng sự cảm thông yêu thương, nhìn họ ta cảm nhận được những nỗi thống khổ họ đang mang trong người đó là những chứng bệnh hiểm nghèo. Họ rất cần có ta một người thầy vị cứu tinh cho nhân loại, hãy cứu họ , đừng làm cho họ thất vọng dù là hy vọng mong manh. Nhìn để hiểu, hiểu để thương, để cùng chia sẽ . Sau khi nhìn ta hãy bắt đầu nghe họ nói.Văn Lắng nghe là điều tất yếu của người thầy thuốc khi khám cho bệnh nhân. Chúng ta những người nhân danh đem lại hòa bình, an lạc cho nhân loại thì ta phải làm tròn bổn phận và trách  nhiệm của cả hai nhiệm vụ người thầy thuốc vùa là thầy Phật pháp là phỉ luôn luôn lắng nghe luôn luôn thấu hiểu. Khi đến bênh giường người bệnh ta phải để ý từng mùi nước tiểu,mùi ỉa trây, tiểu dầm của bệnh nhân để hiểu và cảm thông được sức chịu đựng bệnh tật của người ấy bao lâu rồi, 1 ngày , hai ngày; một hoặc hai tháng hay bệnh đã vài năm. Mượn chiếc áo người thầy thuốc ta hãy làm nhiệm vụ của bật tu hành , trãi lòng mình đến với chúng sanh . Vấn dùng những lời ái ngữ dịu dàng , tạo sự thân mật , quan tâm chăm sóc như người thân của mình không khác. Người thầy Phật pháp khác hẳn người thầy thuốc hoặc bác sĩ tây y. Bác sĩ hoặc thầy thuốc chỉ hỏi về bệnh , tiền bệnh rồi kê toa cho thuốc. Họ không có cái tâm chia sẽ, gần gũi bệnh nhân. Không phải là họ vô trách nhiệm hay họ lơ là với người bệnh nhưng ở đây họ chỉ làm đúng nhiệm vụ của một vị trị bệnh cho người. Có hết bệnh hay không là do con bệnh. Còn ngược lại người hoằng pháp vị thầy thuốc của tâm linh chính sự hòa nhã chăm sóc của thầy làm cho tâm hồn người bệnh được nhẹ nhàng thư thái, thanh thản , dù bệnh của họ có thể không giảm bớt dù họ có ra đi vĩnh viễn khỏi cuộc đời này. Nhưng chình những lời động viên an ủi ấy đã làm cho họ phần nào được nhẹ nhàng và an lạc hơn. Khâu cuối cùng là Thiết tức sờ nắn và xem mạch. Đây là khâu rất quan trọng vì tất cả những gì đã nhìn, nghe ,hỏi đã hoàn thiện chỉ còn lại phần cuối là khám bệnh . Là người thầy trách nhiệm thật nặng nề nên ta không đượ khám hoa loa, không làm ra vẻ ta là người tài giỏi rồi làm giả làm dối , làm cho xong chuyện …đây là những việc làm sai trái phi đạo đức mất phẩm chất của một người thầy. Trong khi khám bệnh ta phải hết sức tập trung tư tưởng lắng nghe từng nhịp mđập của mạch để có sự chẩn đoán chính xác bệnh trang. Một diều cân lưu ý là trong lúc xem mạch cho bệnh nhân người thầy phải đứng cùng phía với bệnh nhân , hoặc ngồi đối diện bệnh nhân. Tránh ngồi choàng ngang người bệnh nhân hoặc ngồi hay đứng đều phải giữ oai nghi không đùa cợt với người khác phái , không nói những chuyện thế sự. Giữ khoảng cách vưa phải với bệnh nhân. Với tư cách người thầy đúng pháp sẽ giúp ta thêm phần phấn khởi trong công việc, lại tăng thêm phần tin tưởng của bệnh nhân đối với người thầy. Bằng cái tâm yêu thương vô ngại vị tha nhân nghĩa ta sẽ đem lại cho cuộc  đời này thêm tươi vui hạnh phúc. Là xứ giả Như Lai đừng chần chờ gì nữa ta hãy bắt ta vào việc ngay hôm nay , hãy cùng nhau mang lại hạnh phúc cho nhân sinh .Có như vậy mới xứng đáng là người con Phật chân chánh

Câu 2: Một con người hiện hữu trên cõi đời này gồm ba tiết tố kết thành đó là Tinh – Khí – Thần. Được bắt nguồn từ sự kết tinh của tình yêu giữa cha và mẹ (tinh) Khi được kết thành con người chỉ là một cái phôi nhỏ bé được hấp thụ bởi thức ăn và sự hô hấp của mẹ truyền sang khi còn trong bào thai(khí) .Dần theo tháng ngày lớn lên tạo thành một cơ thể  hoạt động trong bụng mẹ(thần) do có sự hoạt động nghĩa là có một hài nhi xắp chào thế giới này. Trong ba thành tố thì Thần là quan trong nhất. Theo phạm trù y học cổ truyền thì Thần là hiện tượng hoạt động của não lien hệ đếnđời sống con người là chủ động cơ thể . Thần góp phần chủ đạo việc tạo khí hóa âm dương. Thần chứa ý thức ,tự tác hoạt động là biểu tượng của sự sống . Nên thần còn là sự sống còn ,thân không còn thì sự sống cũng tan đi. Thần sung mãn thì cường trang khỏe mạnh thần suy thì yếu đuối. Sinh mạng con người được bặt nguồn từ tinh, phát triển và tồn tại là nhờ khí ,hoạt động được là nhờ thần . Nên có câu : Khí sinh tinh, Tinh dưỡng khí,khí dưỡng thần ,thần lại hóa khí.

Tinh này bao gồm có hai: Tiên thiên và hậu thiên. Tiên thiên là Từ quá khứ nghìa là được kết hợp từ tinh cha huyết mẹ góp phần tạo thành một chúng sinh . Nếu cha và mẹ là những người khỏe mạnh ,xinh đẹp ,thông minh, tâm  lý tốt (tiên thiên) thì chắc chắn thành tố mới xuất hiện phải là một em bé bụ bẫm dễ thương . Trong quá trinh chào đời và khôn lớn bé được nuôi dưỡng bởi những thứ như: thức ăn, không khí, môi trường , xã hội tốt (hậu thiên) sẽ làm cho em bé này trở thành một con người khỏe mạnh có tinh thần sung mãn. Ngược lại nếu cha mẹ là những người không có sức khỏe ,khi bé ra đời lai gặp lúc khó khăn từ thời tiết ,chất dinh dưỡng… thì chắc chắn em bé ấy lớn lên rất khó khăn , thần rất suy kém. Qua vấn đề này cho ta thấy tiên thiên và hậu thiên đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra thần. Nó làm chủ thể trong việc đưa thần đến sung mãn hay suy kém . Trong nhà Phật Đức Phật phân tích điều này rất rõ trong trong giáo lý nhân quả – nghiệp báo. Nếu một chúng sanh ở kiếp quá khứ tạo nhiều phước lành thì khi tái sanh họ sẽ được đầu thai vào những gia đình giàu sang hạnh phúc . Khi ra đời được bao bọc trong sự yêu thương của cải sung túc nên nó nó khỏe mạnh chống lớn thông minh. Ngược lại có những em bé sinh ra nhiều bệnh tật ,song trong sự nghèo đói, thì khi lớn lên nó sẽ đần độn tinh thần sa xúc. Từ điểm này đưa đến sự phân biệt giai cấp tầng lớp xã hội.

Tóm lại Tinh khí thần là ba nguyên tố không thể thiếu của con người . Chúng gắn bó chặt chẽ và thân thiết với nhau ,hổ tương cho nhau nương tựa nhau cùng tồn tại nên gọi là ba thứ quý báo của con người . Tinh làm cơ sở cho thần ,tinh hóa khí, thần là biểu hiện của khí . Vì thế cổ nhân nói tinh khí thần là tam bửu(tức ba món quý báo của con người) thiếu một con người không thể tồn tại.

 

[1]

 


[1] Kinh Tăng Chi BộII, trang 544,HT Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1996

 

[2] Tăng Chi Bộ II , Chương 5 , trang 543, HT Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1996

[3] Việt Nam Phật Giáo sự Luận,tập I, tác giả Nguyễn Lang, trang 190 NXB Văn Học Hà Nội-2008

 

[4] Phật Học Phổ Thông,quyển IV,  tác giả HT Thích Thiện Hoa, trang 643 , NXB Phương Đông

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s