luan van Phat giao

  1. A.   Dẫn Nhập

Như chúng ta đã biết, khi nói đến lịch sử là nói đến tiến trình hành thành và phát triển của một sự kiện đã và đang sảy ra. Đó là một dòng chảy vô tận không bao giờ dức, nó giống như một dòng sông. Thì Ấn Độ cũng không ngoại lệ, khi nghiên cứu lịch sử về ngôn ngữ Ấn Độ thì “cơ hồ như tờ giấy trắng” mà Ấn Độ họ lại tập hợp nhiều ngôn ngữ, đa sắc tộc, đa tôn giáo nên sự ghi chép của họ còn nhiều thiếu xót và mù mờ. Cho nên, khi nghiên cứu về văn học Phật giáo Sanskrit thì rất khó để chứng tỏ rằng, một nước đa sắc tộc đa tôn giáo như vậy nên họ cho ra đời nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nhưng nay xã hội phát triển thì khoa học, kỷ thuật càng cao nên các học giả và những nhà khảo cổ học đã khai quật những di tích lịch sử và tìm ra được 4 ngôn ngữ chính thống là Sanskrit, Pāli, Prakrit, Buddhist Hybrid Sanskrit để làm bằng chứng, chứng minh rằng: không những Ấn Độ có một ngôn ngữ mà là hủng chủng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chính vì thế đức Phật khi thuyết pháp cũng dùng những ngôn ngữ này. Vì vậy người viết xin chọn cho mình nhan đề “Buddhist Hybrid Sanskrit” cách đặt tên và vị trí của nó trong nhóm ngôn ngữ Ấn Âu”. Để làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận, cùng với vốn kiến thức ít ỏi và nguồn tài liệu tham khảo còn quá hạn chế chắc chắn không làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề. Tuy nhiên người nghiên cứu dùng cách quy nạp, phân tích, lập luận, tổng hợp, trích dẫn.v.v…để không phụ chí hướng mà mình dày công nghiên cứu. Đây là đề tài tiểu luận đang nghiên cứu nên cũng còn nhiều thiếu xót. Dù đã cố gắng nhưng không sao thiếu sót về cách lập luận cũng như cách trình bày cú pháp, ngưỡng mong giảng viên hướng dẫn cùng quý thiện hữu tri thức góp ý cho bài nghiên cứu lần sau được thành công tốt đẹp.

  1. B.   Nội Dung
    1. 1.     Bối cảnh ra đời của Buddhist Hybrid Sanskrit

Khi nói đến hai tạng Phật giáo là Pàli và Sankrit, có những tác phẩm được viết bằng Sankrit như Sanbilasichdi và Thành Thật Luận, Abidama. Câu Xá Luận đựơc ghi trong tạng Sanskrit chính thức, tạng này có khoản 20 mấy tập, ngoài ra còn một số ngoài tạng được viết bằng ngôn ngữ này. Nói đến tạng là nói đến đức Phật, đức Phật dùng ngôn ngữ gì để sau này kết thành tạng? các nhà nghiên cứu Nam Truyền Phật giáo cho rằng: Pàli là ngôn ngữ chính thống mà đức Phật dùng để nói và họ còn tin tưởng rằng Pàli là ngôn ngữ của chư Thiên nói tiếng Pàli. Rồi máy đứa con mình mới sinh ra cũng đựơc nói tiếng Pàli, lỗ tai nó chưa từng nghe một ngôn ngữ nào thì nó có thể nghe và hiểu được tiếng Pàli, vì đó là ngôn ngữ của chư Thiên và của loài người thủy tổ nên họ cho rằng: Pàli là Putbarana mà Putbarana cho rằng: đức Phật dùng Pàli này, sau này các nhà nghiên cứu tìm lại các văn bản và chứng minh rằng: đức Phật không chỉ dùng tiếng Pàli và còn dùng tiếng thổ ngữ như khi đức Phật ở “Ma-Kiệt-Đà thì đức Phật dùng tiếng Magadhi, khi đức Phật ở Kiều-Tát-La thì ngài nói tiếng Kosala, khi ngài ở Tì-Xá-Ly nói tiếng Vajji, khi ngài ở Ba-La-Nại thì ngài nói tiếng Kasi”[1]. Cho nên, khi đức Phật nói bài kệ cho tứ Thiên Vương nghe “Một khi sắc thân hư hoại thì đồng thời thọ, tưởng, hành, thức cũng hủy diệt, đó chính là sự chấm dứt khổ đau. Chỉ nên thấy cái gì đáng thấy và nghe, nghĩ, biết những gì đang nghe, nghĩ, biết vì nếu làm khác đi thì chuốc lấy phiền muộn, đó chính là chấm dứt của đau khổ.  Bất xúc, bất lạc, thanh tịnh, xã ly, đó chính là chấm dứt của khổ đau”[2]. Ngài dùng tiếng Sanskrit nói hai câu đầu thì hai ông Thiên Vương hiểu được, câu thứ ba đức Phật nói tiếng Dãvida tức là tiếng Tamil của miền nam Ấn Độ, câu thứ tư ngài tiếng Miệt-lệ-sa (Mleecha), sau đó 4 vị này xin quy y và phát nguyện hộ trì chánh pháp.

Như vậy, chứng tỏ rằng: đức Phật đi đến địa phương nào nói ngôn ngữ địa phương đó để cho giáo lý được phổ cập nên ngài mới nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong Luật tạng cũng dựa trên những quan điểm này cho rằng: nhờ ngài giữ giới thứ tư là không nói lời thiên dịch, ý ngữ nên ngài thành tựu được viên âm, diệu âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm. Nên ngài Long Thọ nói rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Ngài không nói ra một lời, nhưng tất cả tín đồ của ngài đều được thấm nhuần mưa pháp”[3]. Ngày nay tiếng Magadhi không còn nguyên vẹn, chỉ xót lại bản kinh Pháp Cú. Lại cho rằng: bắt đầu từ chữ Pataliputra ngôn ngữ này là hai ngôn ngữ chính mà những ngừơi dân ở thành Pataliputra sử dụng, từ đó tách ra thành một chữ Pàli. Đó là một ý kiến chưa hẳn là chính xát, vì vậy các học giả Nam Truyền Phật giáo có nhiều ý kiến trái ngược nhau nên đưa ra kết luận rằng: Pàli là tiếng Magadhi hủng chủng của hai ngôn ngữ địa phương vùng Trung Ấn thì mới ra được tiếng Pàli và Pàli chưa từng là ngôn ngữ nói chỉ là ngôn ngữ văn chương. Và không có một tác phẩm nào được viết bằng tiếng Pàli mà không là của Phật giáo. Cũng vậy, những bia ký được khắc trên trụ đá của vua A Dục có thể là những mẫu tự này nhưng mà ngôn ngữ khác, khi ông cai trị một nước lớn thì ghi mấy chữ gọi là mẫu tự Asoka Spript, nhưng sau này các nhà khảo cổ tìm được chiếc bình đựng Xá Lợi Phật mà thời gian của nó truớc thời vua A Dục nó đã có mẫu tự này rồi, từ đó người ta mới tranh luận và dựa trên những tiêu chí đó, cho nên mẫu tự này là chữ Bhrami Spript. Khi ấy có một đại úy người Anh dẫn quân đi hành ở vùng Bairat, vô tình ông gặp một bia ký được khắc ở đá Tanit nên đem bia ký này về và sau này có những học giả đọc được những lời khắc trên đó ghi 7 văn bản của Phật giáo, trong đó có một câu là tất cả những gì đức Như Lai nói đều là hiện thuyết.

Như vậy, thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, thứ hai và ba vẫn chưa có văn tự để ghi, truyền miệng đến nỗi có một ông đọc bài kệ: người sống 100 năm không thấy một hạt già, không bằng một ngày thấy được hạt già, lúc này ông A Nan gọi ông này và đọc lại rằng: trong kinh pháp cú nói rằng: “người sống 100 năm chưa thấy pháp sanh diệt, không bằng sống một ngày thấy được pháp sanh diệt”. Mà kỳ kết tập kinh điển lần thứ ba dưới thời vua kalasoka hay dưới thời Soka ở Kataliputra, lúc này Mục Kiền Liên Đế Tu được mời làm chủ tịch nhưng ông này không phải là Theraveda mà người của Nhất Thiết Hữu Bộ, tác phẩm ra đời là luận tạng Kavilavathu khoản năm 236, tác phẩm này không phải một mình Kataliputra soạn về những quan điểm tranh luận của các bộ phái, mà thời này đã xuất hiện nhiều bộ phái nên có nhiều quan điểm khác nhau. Do đó họ tranh thủ soạn cho mình một tạng để chứng minh rằng đây là lời Phật nói. Như vậy, Magadhi có mặt nhưng chưa hoàn chính 3 tạng. Khi đó có Tỳ Kheo Milinda con vua Asoka sang Srilanka truyền đạo nhưng không đủ 3 tạng và ngôn ngữ này được Srilanka lưu trữ lại cho đến thế kỉ thứ nhất trước tây lịch Srilanka mới biên dịch trên lá bối sau sự biên tập của người Ấn, về sau ngài Buddhaghosa (Phật Âm) ở thế kỉ thứ V sang Srilanka và dịch tất cả những tác phẩm Phật giáo Srilanka sang Pàli.

  1. 2.     Cách đặt tên của Buddhist Hybrid Sanskrit

Ban đầu Buddhist Hybrid Sanskrit gọi là Gaatha Sanskrit vì các văn phạm trong phần thơ kệ khác với văn phạm trong phần trường hàng. Verse chứa đựng Hybridization với các phương ngữ Ấn Độ. Nhưng các nhà ngôn ngữ học phản đối vì: ngôn ngữ này đã phổ biến, lan rộng trong các bia ký được tìm thấy ở nhiều vùng khác nhau trên đất Ấn, mà văn phạm của ngôn ngữ này không theo văn phạm của Sanskrit chính thống khắc khe, toàn bộ được viết về kinh điển Phật giáo. Nên đặt tên nữa là Mixed Sanskrit nhưng chỉ dùng một thời gian ngắn. Về sau các nhà ngôn ngữ học lại thấy các ngôn ngữ này được quần chúng sử dụng rộng rãi khi có kiến thức về Sanskrit, Pàli hay Prakrit và các ngôn ngữ Trung Ấn, nên lại đặt một tên nữa Sanskrit thông tục. Cho đến năm 1953 nhà ngôn ngữ học IrankLin Edgertin người Mỹ cho xuất bản tác phẩm Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar anh Dictionary, trong đó ông dùng từ “Hybrid” (hổn chủng) để thây thế cho từ  “Mixing” (pha trộn) ông đặt tên là Buddhist Hybrid Sanskrit với các lý do, Buddhist là phẩm chất thứ hai. Hybrid để chỉ đặt tánh của ngôn ngữ này và Sanskrit để chỉ vị trí ưu thế của Sanskrit trong các tác phẩm cũng như trong các ngôn ngữ này. Các học giả không chấp nhận, ông viết 10 bài báo để tranh luận nhưng không được, sau khi ông chết họ mới mở cuộc nghiên cứu về 10 bài báo và cuối cùng họ chấp nhận ngôn ngữ này. Ông để lại cuốn từ điển về văn phạm trong đó có phần nói về ngôn ngữ này. Vào năm 1957 ông cho ra đời một cuốn từ điển văn phạm Buddhist Hybrid Sanskrit ông nêu lên một tác phẩm Buddhist Hybrid Sanskrit Areades. Vì nó giống Sanskrit. Buddhist Hybrid Sanskrit nằm trong giai đoạn Middle Indo Aryan period (500 B.C- 1000 A.D) với nhiều luật lệ văn phạm được thiết lập trong quá trình phát triển ngôn ngữ. Buddhist Hybrid Sanskrit được dùng để viết và nói với nhiều vùng khác nhau. Cho nên, khi nói về ngôn ngữ này thì các nhà ngôn ngữ học đặt nhiều tên khác nhau như: Gaatha Sanskrit, Mixed Sanskrit, Popular Sanskrit, Colloquial Sanskrit, Buddhist Sanskrit và Buddhist Hybrid Sanskrit nhưng tên của ngôn ngữ này vẫn chưa được quyết định.

  1. 3.     Nhóm ngôn ngữ Ấu-Âu

Nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu là một loại ngôn ngữ và phương ngữ, bao gồm các ngôn ngữ chính ở Châu Âu, cao nguyên Iran, Nam Á, Tiểu Á và Trung Á, nhóm ngôn ngữ này rất quan trọng trong việt nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ vì được lịch sử ghi chép dài nhất chỉ sau nhóm Á-phi. Trong tốp 20 ngôn ngữ đương đại, 12 ngôn ngữ Ấn-Âu là Spainish, English, Hindi, Bengali, Marathi, Pinjabi và Urdu được 1,7 tỷ người đang sử dụng.

Đề nghị sự giống nhau giữa ngôn ngữ Ấn Độ và Âu Châu là do người Âu Châu đến Ấn Độ vào thế kỷ 16. Năm 1583 một tu sĩ Thiên Chúa giáo tên là Thomas Stephen khi ông truyền giáo và đã đến xứ Goa ghi nhận sự gần giống nhau giữa các ngôn ngữ Ấn Độ, đặt biệt là Konkani, tiếng Hy lạp và tiếng Latin, nên ông một bức thư gởi cho một người anh em và vài năm sau mới xuất bản. Câu chuyện đầu tiên được đề cập đến cổ ngữ Sanskrit do một người Tây Âu tên Filippo Sassetti, một thương gia du hành đến lục địa Ấn. Ông ghi lại một số từ tương tợ giữa Sanskrit và tiếng Ý vào năm 1585. Nhưng không làm cho các nhà khoa học về ngôn ngữ quan tâm.

Năm 1674 nhà ngôn ngữ học người Đức là Marcus Zuerius van Boxhorn ghi lại sự giống và khác nhau giữa các ngôn ngữ Ấn-Âu là một ngôn ngữ nguyên thủy mà ông gọi là “Scythian”. Ông đưa ra những đề nghị về tiếng Hà Lan, Hy Lạp, Latin, Ba Tư và tiếng Đức, sau đó lại thêm các ngôn ngữ Slavic, Celtic và Baltic, tuy nhiên đề nghị của ông không được các học giả quan tâm. Rồi mãi đến năm 1786 khi Sir William Jones lần đầu tiên giảng thuyết đầy ấn tượng sự tương đồng giữa 3 cổ ngữ được biết đến trong thời đại của ông là Latin, Greek và Sanskrit. Ông cũng thử thêm vào Gothic, Cletic anh Old Persian cổ ngữ Ba Tư, mặc phạm một vài điều không chính xác vào một vài bỏ xót trong sự sắp xếp của ông và từ đây được các nhà học giả quan tâm. Đến 1813 nhà học giả tên Thomas Young là người đầu tiên dùng từ Indo-European nhóm Ấn-Âu đã trở thành từ khoa học tiêu chuẩn. Mà ngôn ngữ này ảnh hưởng một vùng rộng lớn Châu Âu, Châu Á và bao gồm vùng Nam Á. Số lượng người nói ngôn ngữ này chiếm 99%. Cho nên mới có ngôn ngữ này.

  1. 4.     Vị trí của Buddhist Hybrid Sanskrit trong nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu

Như vậy, Buddhist Hybrid Sanskrit được xếp vào khoản Middle Indo Aryan period (500 BC-1000 AD). Dùng để phiên dịch kinh điển Phật giáo. Ngôn ngữ này được dân chúng ở nhiều vùng khác nhau dùng để viết và nói. Do đó, ngôn ngữ này là một ngôn ngữ khá phổ biến vào thời Middle Indo Aryan period. Cho nên, khi nhà ngôn ngữ học Sir William Jones thấy các cỗ ngữ như Greek, Latin và Sanskrit có nhiều điểm giống nhau như 7 cases, 3 genders, 3 numbers.v.v..

Điều này chứng tỏ rằng: các ngôn ngữ là đồng đại với nhau. Ý kiến này đã được các học giả ngôn ngữ công nhận. Họ giả định rằng: đã có một ngôn ngữ Indo European gốc và chính là mẹ đẻ của Greek và Latin được sử dụng trên lục địa Âu Châu, trong khi Sanskrit được sử dụng trên lục địa Ấn. Vì thế Âu Châu và lục Địa Ấn đã kết thành một nhóm ngôn ngữ được gọi tên là Indo-European family. Về sau ngôn ngữ này được nhà học giả Ascole phân chia lầu đầu vào năm 1870 thành hai nhóm lớn là Centum và Satem.

1. Centum chia ra thành 6 nhóm như Greek, Italic, Germanic (nhóm ngôn ngữ thông dụng của miền Tây Bắc Âu Châu, gồm 3 phân nhóm North, West anh East Germanic). Keltic (ngôn ngữ của người Xen-tơ), Jokharan anh Hittite (ngôn ngữ vùng Anatolia tiểu Á trong thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên).

2. Satem lại chia thành 5 nhóm như Baltu (ảnh hưởng đến ngôn ngữ Bĩ, Phần Lan), Albanian (tiếng An-ba-ni), Slavic (bao gồm tiếng Nga, Ba Lan, Bunragry) Armenian (tây nam Á Châu, phía Nam Georgia, phía Bắc Iran, phía đông Bắc Thổ Nhỉ Kỳ, phía Tây Azerbaijan) và Indo Aranian (Bắc Ấn và Trung Đông).

Indo Aranian lại phân chia thành 2 nhóm nữa như:

1. Iranian bao gồm Avestan (ngôn ngữ Trung Đông cổ đại, kinh điển Bái Hỏa giáo được viết bằng ngôn ngữ này). Và Persian (tiếng Ba Tư).

2. Indo Aryan có tác phẩm xưa nhất là Rig-veda khoản 2000 BC-1500 BC. Điều này chứng minh rằng: nền văn minh của nó đã được hình thành trước đó khoản 1 hoặc 2 nghìn năm đó. Theo thời gian phát triển Indo Aryan lại được phân chia thành 3 giai đoạn Sansksrit là:

1. Old Indo Aryan (2000 BC-500 BC). Văn minh Veda AAran.yaka anh Upanis.ad. Sanskrit cổ đại (classisal Sanskrit) thuộc về giai đoạn này.

2. Middle Indo Aryan (500 BC-1000 AD) Pali, Inscriptional, Prakrit thuộc về giai đoạn này.

3. Later Indo Aryan (1000 AD-modern time) các ngôn ngữ Ấn Độ đương đại như là Hindi, Bengali, Punjabi, Marattu, Gijrah.v.v…thuộc về giai đoạn này. Khi chúng ta đề cập đến vị trị của Buddskrit Hybrid Sanskrit trong nhóm ngôn ngữ Ấn Âu phải biết giai đoạn Middle Indo Aryan lại được phân chia thành 3 giai đoạn nữa.

1. Old Middle Indo Aryan period (500 BC-01 AD) có ngôn ngữ Pàli, Prakrit, Magadhi, và một phần của Buddskrit Hybrit Sanskrit thuộc giai đoạn này. Nó bao gồm Mahavastu (third century BC), Bát Thiên tụng, Phổ Diệu, Pháp Hoa.v.v…tại vì nó hủng chủng cả trường hàng và trùng tụng.

2. Middle Middle Indo Aryan period (01 AD-500AD) phần còn lại của văn học đại Thừa thuộc về giai đoạn này như là Dasabhumiisvara, Avadana, Jataka, kinh Pháp Hoa, kinh Thập Địa, kinh Di Đà, kinh Nguyệt Đăng Tam Muội, kinh Quang Minh.v.v…

3. Later Middle Indo Aryan period (500-1000 AD). Vậy Buddhist Hybrid Sanskrit nằm trong giai đoạn Old Middle Indo Aryan đến giai đoạn Middle Middle Indo Aryan trong nhóm ngôn ngữ Ấn Âu mà thôi. Thời này có các bộ kinh Lăng Già, kinh Kim Cang Năng Đoạn, kinh Bi Hoa.v.v….

Buddhist Hybrid Sanskrit texts được xếp thành 3 thời kỳ, sự phân chia này không chỉ phân chia theo thời gian mà còn phân chia ngôn ngữ được lai tạp. Tạm gọi sơ kỳ, trung kỳ, hiện đại.

-Sơ kỳ: Mahavastu, tác phẩm này không những chỉ xưa nhất trong dòng văn học Buddhist Hybrid Sanskrit mà còn chứa đựng highest degree of hybridization.

-Trung kỳ: bao gồm các tác phẩm chỉ có phần ngôn ngữ phần thơ kệ hỗn chủng và một phần nhỏ phần ngôn ngữ của phần trường hàng chứa đựng một số ít yếu tố non-Sanskrit như là: Thập Địa , Pháp Hoa, Kasyapa Privartra, Phổ Diệu, Gandavyuha, Raastrapaala Paripriecha, Samadhirajasutra, Survarnabhavosahm, Udanavarga.v.v…..

-Hiện đại: Phần nhiều trường hàng không có lai tạp, nó được viết bằng văn phạm thuần chủng, không sai phạm bất cứ quy tắc nào và phần thơ kệ Hybridized: Mulsarvastivada vinaya, lankavatana, Avadana-sataka, Pratimoksa sutra, Manjusri-kalpa. Bodhisattva bhumi, Bát Thiên tụng, Sahasatasrika Bát Nhã, kaaranda-vyuha, Vajracchedika.

  1. Kết Luận

Lịch sử văn học Buddhist Hybrid Sanskrit là một pháp bảo vô giá của Phật giáo đại Thừa nói riêng và thế giới nói chung. Tiết rằng ngôn ngữ này bị thất lạt quá nhiều, do đó chúng ta khi nghiên cứu về ngôn ngữ này gặp rất nhiều vấn đề rất là khó khăn khi đưa ra một luận cứ mà không máy ai chấp nhận. Như vậy, sự xuất hiện của dòng văn học Buddhist Hybrid Sanskrit là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử hình thành Phật giáo đại Thừa tại Ấn Độ, vì nó đáp ứng nhu cầu của thời đại mới chuyển mình và thoát ra khỏi khung sường cứng nhắc của những gì được xem như là khuynh hướng bảo thủ cực đoan, hơn thế nữa Buddhist Hybrid Sanskrit là ngôn ngữ thuộc giới thượng lưu, quý tộc, còn Pàli được phổ biến của hạng thường dân. Nhưng dẫu sao đây cũng là công trình nghiên cứu của tất cả thế hệ trẻ như chúng ta tiếp bước.

Như thế, cho dù tiếng Buddhist Hybrid Sanskrit hay tiếng Pàli hay bất cứ một ngôn ngữ nào đi nữa.v.v… Mà đức Phật đã dùng để chuyển tải trong suốt quá trình du hóa độ sanh đưa đến một bức thông điệp vô cùng quý báu đem sự an lạc giải thoát cho kiếp sống nhân loại này. Qua đó chúng ta càng hiểu rỏ thêm rằng: dòng văn học này đã có công làm cầu nối huyết mạch vô cùng quan trọng để sáng tỏ giáo lý Phật giáo, ngược lại không có dòng văn học này thì chúng ta khó mà lưu trữ một kho tàng giáo lý mà đức Phật đã dày công khám phá chỉ cho chúng ta con đường khổ và con đường diệt khổ, để chúng ta lấy đó làm tư lương, hành trang cho mình để đi đến một mục đích cuối cùng là an lạc, giác ngộ, giải thoát đời này và mãi mãi về sau.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

™]˜

1. Thích Kiên Định, Lược sử văn học Sanskrit và Hán tạng Phật giáo, Nxb Thuận Hóa Huế, 2008.

2. Cao Hữu Đính, Văn học sử Phật giáo (Thành lập tam tạng), Nxb Thuận Hóa Huế, 1996.

3. Thích Nhuận Châu dịch, Tài liệu lịch sử văn học Phật giáo tiếng Sanskrit.

4. TT. Thích Chơn Minh, Tài liệu giảng dạy tại Học Viện Phật giáo, lớp đại cương khóa IX.

 


[1] Cao Hữu Đính, Văn Học Sử Phật Giáo (thành lập tam tạng), Nxb Thuận Hóa Huế, 1996. Tr. 36.

[2] Cao Hữu Đính, Văn Học Sử Phật Giáo (thành lập tam tạng), Nxb Thuận Hóa Huế, 1996. Tr. 36, 37.

[3] Cao Hữu Đính, Văn Học Sử Phật Giáo (thành lập tam tạng), Nxb Thuận Hóa Huế, 1996. Tr . 37.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s