TIỂU LUẬN

MỤC LỤC

A.  DẪN NHẬP. 1

B.  NỘI DUNG.. 2

1. Khái Quát Về Bối Cảnh Lịch Sử Đất Nước Ấn Độ Cổ Đại2

1.1. Vị trí địa lý và tình hình dân cư. 2

1.2. Văn hoá – tín ngưỡng. 2

1.3. Kinh tế – xã hội3

2. Tư Tưởng Triết Học Bà-La-Môn.3

2.1. Sơ lược sự hình thành tư tưởng triết học Bà-La-Môn giáo.3

2.2. Hiện tượng Bà-La-Môn hoá. 6

2.3. Quan điểm về nguồn gốc vũ trụ trong kinh Veda.7

3. Tư Tưởng Triết Học Upanisad Trong Kinh Điển Vệ Đà. 8

3.1. Từ nguyên. 8

3.2. Triết học và tư tưởng Upanisad (Áo Nghĩa Thư)8

3.3. Vị trí của Áo Nghĩa Thư trong kinh điển Vệ-Đà. 10

C. KẾT LUẬN.. 12

THƯ MỤC THAM KHẢO.. 14

 

 

A.  DẪN NHẬP

Nhập lưu trong dòng chảy triết học Ấn Độ, Bà-la-môn giáo đã có sự đóng góp to lớn, trên nhiều phương diện khác nhau về nhân sinh vũ trụ. Sự ảnh hưởng sâu đậm trong từng ý niệm, từng cử chỉ tạo thành một nếp sống cho người dân Ấn Độ lúc bây giờ, tồn tại và phát triển như một thực thể không thể thiếu trong suối nguồn tâm linh của đất nước Ấn Độ. Sau này cùng với sự phát triển song song của Phật giáo, đã có không ít những tư tưởng phản ảnh sự đồng dị giữa Bà là môn giáo với Phật giáo. Do đó: “Chúng ta phải đi vào triết học Ấn Độ với một tâm trạng thao thức và thành khẩn, để mong chờ một tia sáng nào đó trong khu rừng huyền bí Đông phương mà từ đó, ánh sáng vũ trụ và ánh sáng nội tâm sẽ trùng phùng để phá tan đồi sống nông cạn đầy đau đớn phân ly, đầy khổ ải hận thù.”[1]

Muốn có một quan điểm xác thật về bản chất triết học của Bà-la-môn giáo là gì, có lẽ chúng ta phải tìm hiểu và nghiên cứu. Trong bài viết này vì không phải là một bài khảo cứu mang tính chuyên ngành – nên sự cho phép ở đây chỉ được giới hạn trong những luận điểm cơ bản nhất mà người viết cho rằng đủ để làm dẫn chứng đánh giá về một trào lưu tư tưởng đã có quan hệ sâu đậm của Bà-la-môn giáo theo suốt chiều dài lịch sử Ấn Độ. Trong đó phải nói đến “Tư tưởng triết học của Áo Nghĩa Thư trong kinh điển Vệ Đà” của Bà-la-môn giáo. Chính vì vậy mà người viết đã chọn đề tài này.

Về phương pháp nghiên cứu người viết bài này dùng phương pháp mô tả-phân tích lại những tài liệu đã có sẵn, bên cạnh đó cũng sử dụng những phương pháp khác để hỗ trợ cho bài viết thêm sinh động, linh hoạt để làm sáng tỏ đề tài. Tư tưởng triết học Áo Nghĩa Thư của Bà-la-môn giáo như khẳng định vai trò trọng yếu của mình trong phát triển đời sống tâm linh cho xã hội loài người, quan điểm về Atman và Brahman của họ đã khiến cho nhân loại vẫn phải đặt một dấu hỏi chấm, nhưng dù sao đi chăng nữa thì tư tưởng này vần tồn tại đến ngày nay.

Vậy chúng ta hãy cố gắng vạch ra vài điểm quan trọng nhất để làm đầu mối cho cuộc phiêu lưu của chúng ta vào cánh rừng hoang vu văn hoá Ấn Độ. Để: “phát triển cho phù hợp với yêu cầu của đời sống hiện thực “những điều mà các nhà thông thái, những người đã thoát khỏi quan niệm về lòng yêu thương và sự thù ghét công bố”[2].

B.  NỘI DUNG

1. Khái Quát Về Bối Cảnh Lịch Sử Đất Nước Ấn Độ Cổ Đại

1.1. Vị trí địa lý và tình hình dân cư

Ấn Độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam Châu Á. Đông Nam và Tây Nam giáp với Ấn Độ Dương; Phía Bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và  sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất Châu Á. Phía Nam Ấn Độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.

Do vậy, khí hậu giữa các miền của Ấn Độ  không đồng nhất với nhau, có nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn, nắng nóng.

Thời cổ đại, Ấn Độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidians ở phía Nam và người Aryan sống ở phía Bắc. Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn Độ rồi định cư như người Ba Tư, Hi Lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại sau này.

1.2. Văn hoá – tín ngưỡng

Sau khi nền văn hoá sông Ấn bị suy tàn (khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên trở lại) là nền văn hoá Vệ-Đà của giống dân Aryan khoảng từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên. Trong khi người Ấn Độ tại lưu vực sông Ấn đã đặt niềm tin tuyệt đối vào các bậc thần linh, nhất là nữ thần, thì người dân Aryan lại sùng bái những vị thần tự nhiên như thần mặt trời (Mitra), thần mặt trăng (Vanura), thần vật tổ Indra, thần lửa (Agni), thần chết (Yama) và thần rượu (Soma),….

Sự giao thoa giữa hai nền văn hoá Aryan và dân bản địa vào khoảng thiên niên kỷ thứ hai, đã tạo ra một sự thay đổi lớn mang tính phổ quát về văn hoá – tín ngưỡng.[3]

1.3. Kinh tế – xã hội

Đời sống của người dân Ấn Độ chủ yếu là phát triển nông nghiệp và thương mại, về mặt xã hội các bộ tộc chuyển thành các quốc gia, đứng đầu mỗi quốc gia là quốc vương. Vào thời điểm này bắt đầu xuất hiện chế độ đẳng cấp, phân biệt màu da và chủng tộc giữa người Aryan và người Dravidian. Bốn giai cấp được hình thành là đẳng cấp Bà-la-môn, đẳng cấp Sát đế lợi, đẳng cấp Tỳ xá và cuối cùng là đẳng cấp nô lệ Thủ đà la.[4]

2. Tư Tưởng Triết Học Bà-La-Môn.

2.1. Sơ lược sự hình thành tư tưởng triết học Bà-La-Môn giáo.

Khi nói đến Ấn Độ cổ đại là nói đến nền văn hoá tôn giáo huyền bí đã được hình thành từ lâu đời theo bề dày lịch sử, tiềm ẩn trong mình dòng máu văn hoá của một nền triết học về vũ trụ và nhân sinh. Đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng nhân loại ở từng thời kỳ khác nhau trong lịch sử. Nó được khởi nguồn từ người dân bản địa sống tại lưu vực sông Indus về phía Bắc của đất nước cổ đại này. Sự xâm nhập của tộc người Aryan vào những năm 3000 trước công nguyên, đã khai sinh ra một nền văn hoá mới, nó là giao thoa giữa các nền văn minh của tộc người bản địa Munda và Dravidian,  nền văn hoá mới này đã làm tiền đề cho toàn bộ nền văn hoá của Ấn Độ sau này.

Theo tiến trình thời gian có thể được chia làm ba giai đoạn, thể hiện những nguồn tư tưởng khác nhau, nhưng sự phát triển của nguồn tư tưởng mới đều lấy cái cũ làm nền tảng.

Nguồn tư tưởng thứ nhất của Bà-La-Môn giáo là bộ Rig-Véda, vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên, khi dân tộc Aryan xâm nhập vào phía Tây bắc nước Ấn Đô, tại đây họ đã chế tác được các bộ kinh đầu tiên mà nội dung chỉ là những bài ca tán thán có tính cách thần thoại. Thời kỳ này con người đều cho rằng tất cả những hiện tượng của tự nhiên như mưa, nắng, lửa, sấm, ….. đều là những vị thần ứng hiện, chi phối đời sống xã hội, trên lĩnh vực đạo đức sự ảnh hưởng của thần linh cũng chiếm một vị trí khá quan trọng. Họ tôn thờ Thần Không Trung Vanura như một vị thần công minh, có quyền thưởng phạt những kẻ phi đạo đức, vị thần này luôn theo dõi sự vận hành của vũ trụ và cũng luôn giám sát, bảo vệ công lý cho nhân gian. Thời kỳ này người dân Ấn đặt trọn niềm tin nơi các vị thần linh, dưới sự bảo hộ họ sẽ có được một cuộc sống an lành.Về kinh điển đã xuất hiện nhiều nhưng chúng ta quy nạp lại vào bốn bộ sau:

– Rig-Véda: Nội dung ca tụng các thần linh.

– Yajuna-Véda: Tập hợp các nghi thức lễ bái và tế tự.

– Sama-Véda: Gồm những khúc ca cầu nguyện.

– Atharva-Véda: Sưu tập những câu phù chú.

Như vậy, ở thời kỳ đầu này tư tưởng người dân Ấn chủ trương về đa thần giáo, mỗi hiện tượng trong vũ trụ đều được biểu thị bằng một vị thần. con người hoàn toàn lệ thuộc và bị chi phối bởi thần linh. Tư tưởng này kéo dài và có ảnh hưởng đến khoảng năm 1000 tới năm 800 trước công nguyên, khi nguồn tư tưởng thứ hai của Bà-La-Môn giáo xuất hiện. Tộc người Aryan thiên di lần lượt về phía Đông , chiếm cứ khu đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng và tại đây họ bắt đầu chuyển sang hình thức định cư một chỗ, dân số ngày càng phát triển kéo theo hình thức tổ chức xã hội cũng thay đổi. Từ hình thức bộ tộc chuyển thành đất nước, mỗi nước có một quốc vương cai trị, pháp luật cũng bắt đầu thành lập. Xã hội phân chia thành bốn đẳng cấp rõ rệt: Bà-La-Môn là những thành phần thuộc hàng Tăng lữ chuyên về việc tổ chức nghi thức tế lễ, hàng Sát-Đế-Lợi những người thuộc đẳng cấp vua chúa hay những cấp quý tộc, hàng Vệ-Xá những thành phần thuộc thương buôn bán, Thủ-Đà-La là giai cấp nô lệ.

Vào thời kỳ này kinh điển đã được sưu tập và biên chép lại bằng một thứ tiếng Phạn cổ, không như trước đây chỉ được truyền khẩu qua các thể hệ. Về cách tán tụng cũng không được xiển dương nhiều mà chủ yếu đi sâu vào thực hành những bí quyết, bí pháp, niệm chú.

Ở thời kỳ trước khi mà con người biểu thị mỗi một hiện tượng tự nhiên là một vị thần, thì đến thời điểm này con người đã cho rằng có một đấng tối cao toàn năng, siêu thế sinh ra muôn vật, đã khai sáng ra vũ trụ. Purusha được mệnh danh là Đấng Duy Nhất.[5]

Vì giai cấp Bà-la-môn chuyên lo công việc lễ nghi tôn giáo nên đã chế tác ra bộ kinh Brahmana để chú thích và thuyết minh kinh điển Veda. Nội dung của Brahmana thì hoàn toàn là một pho sách tính thần học, khai triển theo ba giai đoạn:

– Thứ nhất : lấy Prajapati (tử tôn chi chủ) là thần tối cao tạo ra vũ trụ, trời đất, hư không, các thần, con người, vạn hữu. Giai đoạn này thộc về giai đoạn sáng tạo.

– Thứ hai: Lấy Bràhmana (đại ngã) làm trung tâm chi phối các vị thần.

– Thứ ba: Lấy Àtman (tự ngã) làm trung tâm. Bràhman và Àtman tuy tên khác nhau nhưng cùng một thể. Bràhman thuộc về phương diện vũ trụ, Àtman thuộc về phương diện tâm lý. Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất diệt, nghĩa là Àtman khi lìa thể xác thì linh hồn được quy thuộc về Braman.

Tịnh tiến theo thời gian những quan niệm về Bràhmana và Àtman được hình thành rõ rệt hơn trong thời kỳ khoảng 800 đến 600 năm trước công nguyên, một nền triết học mới của Ấn Độ được khởi phát với danh từ Upanisad (Áo Nghĩa Thư). Căn nguyên của Upanisad là “những lời lẽ cao đẹp của giới quyền quý”[6]. Chủ chương của Upanisad nhằm làm sáng tỏ những lý lẽ trong các cuộc tế lễ, ý nghĩa tiềm tàng trong các bài kinh, tư tưởng không còn mơ hồ như trong giai đoạn đầu như Rig-Veda. Upanisad chỉ nhằm vào việc mở mang về mặt tri thức cho hàng tín đồ. Khi luận về Bràhman và Àtman chủ chương cho rằng “phạm ngã đồng nhất”, sự thể nhập của Àtman với Bràhmana là một sự trở về sau khi rời khỏi thân xác của một con người bằng con đường tu tập theo Yoga, và khi Àtman trở thành Bràhman sẽ là tiến trình cuối cùng của việc giải thoát, tức là chấm dứt luân hồi.

2.2. Hiện tượng Bà-La-Môn hoá

So sánh thời cổ đại Ấn độ với Trung Hoa người ta thấy ca tụng của kinh Thi tương đương với Mantra, giáo lý kinh Thư tương đương với Brahmana và triết lý kinh Dịch tương đương với Sutra.

Bộ Veda toát lên giáo lý cơ bản là con người thường xuyên có những mối liên hệ với thần linh, phản ánh sự hòa đồng giữa con người và vũ trụ. Nhờ cúng tế, con người sẽ được các thần linh đó phù hộ che chở, sẽ tránh được điều rủi gặp được điều may. Dần dần những người cúng tế để củng cố địa vị mình, họ đã sáng tác bộ thánh điển Bràhman là tập sách chú giải, diễn nghĩa gắn liền với từng bộ kinh Veda, đây là giai đoạn đạo Bà-La-Môn , những Tăng lữ nầy có uy thế và đặc quyền, trong quyển luật Manu thời cổ đại Ấn Ðộ, đã khẳng định và dành sự ưu đãi đặc biệt là không ai có thể bắt tội hoặc xử tử người thuộc đẳng cấp này.

Hiện tượng “Bà-la-môn hóa” đối với các từng lớp xã hội khác lúc đó, là thuyết về bốn giai đoạn của cuộc đời. Theo đó, một người Ấn Ðộ lần lượt trải qua các giai đoạn: đồ đệ Bà-La-Môn, chủ gia đình, ẩn sĩ và đạo sĩ khất thực, như vậy trong hai giai đoạn cuối của cuộc đời, người Ấn Ðộ hầu như đều trở thành đạo sĩ Bà-La-Môn. Tất cả những điều nầy củng cố thêm quan niệm trật tự xã hội, một quy phạm có tánh cách vĩnh hằng. Người ta cho rằng đạo Bà-La-Môn xây dựng trên nền tảng có ba yếu tố: đạo, đẳng cấp và các giai đoạn đời sống. Và họ quan niệm rằng: “Họ nhìn chung quanh và thấy cây cối, núi non, đồng bằng và sông ngòi. Họ thấy mưa và gió, họ biết đến tất cả những sinh vật cùng chia sẻ với họ trên trái đất”[7].

Giai đoạn cuối cùng dài nhất của đạo Bà-La-Môn, là sự chuyển hóa thành Ấn Ðộ Giáo (đạo Hindu) hình thức phát triển cao của đạo Bà-La-Môn . Kinh điển Ấn Ðộ Giáo gồm có kinh Veda và các tác phẩm văn học. Về kinh điển có bốn bộ kinh Veda, những cuốn sách chú giải Bràhman, đỉnh cao của hệ thống giáo lý tự biện của Ấn Ðộ giáo tập trung trong những bộ kinh Upanisad. Về tác phẩm văn học số lượng đa dạng, chủ yếu là cuốn truyện cổ tích Purana, hai cuốn sử thi Mahabharata và Ramayana. Nổi bật nhất là tác phẩm Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita) lồng vào sử thi Mahabharata. Tác phẩm nầy là bản tổng kết xuất sắc giáo lý Ấn Ðộ giáo, một nhà nghiên cứu đã đánh giá: “một cuốn thánh kinh vĩ đại, đầy đủ và vắn tắt nhất trong tất cả thánh kinh của nhân loại.”[8]

2.3. Quan điểm về nguồn gốc vũ trụ trong kinh Veda.

Có rất nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc của Vũ trụ, được hình thành như thế nào trong kinh Veda, có thuyết cho rằng vũ trụ là một quả trứng thần bằng vàng treo lơ lửng trong hư không. Sau một năm thần Bràhma từ trong quả trứng đó đã làm vở tung quả trứng, nữa trên băng vàng hóa thành trời, nữa dưới bằng bạc hóa thành đất, khoảng giữa là không trung, lòng trắng lòng đỏ tạo thành núi non, sương mù và mây, tia máu thành các sông ngòi, chất lõng thành biển cả. Ở chính giữa có quả núi trụ trời cao vút, đó là núi Meru. Vũ trụ nầy được hình thành như thế. Một thuyết khác lại khái niệm về nguồn gốc của vũ trụ như sau: “……Miệng Ngài sinh ra tiếng nói và lửa, Mũi Ngài sinh ra hơi thở và gió, Mắt Ngài sinh ra cái thấy và mặt trời. Tai Ngài sinh ra cái nghe và bốn phương trời. Da Ngài sinh ra tóc, tóc sinh ra câu cối. Tim Ngài sinh ra tâm tư và mặt trăng”.[9]

Nếu theo quan điểm trên thì vũ trụ này do chính Đấng Tối Cao sinh ra từ những bộ phận trên cơ thể của Ngài, một sự liên hệ cơ hữu không thể tách rời. Nếu coi Ngài là con nhện, thì vạn hữu là tơ nhả ra từ lưng nhện[10](Rig-vèda, X, 90), ví dụ Ngài là lửa, thì vạn hữu là những tia lửa, những tàn lửa từ lửa phóng ra.[11]Brihad Aranyaka Up. 20.2.1)

3. Tư Tưởng Triết Học Upanisad Trong Kinh Điển Vệ Đà

3.1. Từ nguyên

Từ Upanisad xuất phát từ động từ căn √sad và hai động từ tiếp đầu âm là upa + ni, như vậy là upa-ni-√sad. √sad có nghĩa là ngồi, upa-ni là đến gần và hạ mình xuống. Theo cách giải từ nguyên thông thường thì upanisad có nghĩa là “sự đến gần ngồi xuống [bên Đạo sư để nghe dạy]”, và vì các bài dạy mang tính chất bí mật uyên áo.

Tuy nhiên, theo nhà Ấn Độ học Harry Falk đã chứng minh rất thuyết phục rằng, “người đến gần ngồi bên cạnh” như từ nguyên bên trên gợi ý không phải là đệ tử, mà là một năng lực siêu nhiên đến bên hành giả, upanisad mang nghĩa “một năng lực ảnh hưởng” nhiều hơn, và như vậy, nó có một nghĩa rất chủ động.

Trong bài luận giải cho Ca-tha áo nghĩa thư (kathopanisad), Đại luận sư Thương-yết-la (sankara) lại cho chữ -sad xuất phát từ gốc động từ √śad với nghĩa tiêu diệt, hàng phục. Qua đó, Thương-yết-la kiến lập một giáo lí trên cơ sở các Áo nghĩa thư, với chức năng tiêu diệt vô minh.[12]

3.2. Triết học và tư tưởng Upanisad (Áo Nghĩa Thư)

Thuộc hệ phái tư tưởng chính thống Upanisad đã khẳng định vai trò của mình trong việc chinh phục tâm linh. Tư tưởng triết học được đề cập khá chi tiết qua cuốn sử thi Râmâyana và anh hùng ca Mahaabhârata.[13] Bên cạnh những tư tưởng cao vút lại tồn tại những ý tưởng tầm thường, những lời phỏng đoán rỗng tuếch về những âm tiết hoặc về huyền thuật. Tuy nhiên, khi nói đến Upanisad những chủ đề về Tiểu ngã và Đại ngã, luân hồi nghiệp báo cùng hai quan điểm đối lập Duy vật và Duy tâm được xem là quan trọng nhất, là rường cột cho tất cả các học phái Bà-La-Môn sau này.

3.2.1. Quan điểm Àtman (tiểu ngã) và Bràhmana (đại ngã)

“Cái gì là thực tại đầu tiên, duy nhất, tối cao, là căn nguyên của tất cả, mà khi nhận thức được nó người ta sẽ biết được mọi cái và có thể giải thoát được linh hồn con người khỏi mọi lo âu khổ não của cuộc đời”. Upanisad đã cho rằng: đó là “Tinh thần vũ trụ tối cao Brahman”. Brahman được coi như Đại ngã, bản thể tuyệt đối của vũ trụ như vậy thì trong khi đó Atman lại được coi như một thực thể tồn tại trong mỗi cá nhân. Hơi thở hay linh khí là nguồn sống thiêng liêng được định nghĩa bởi Atman, thực thể này chẳng phải là lý trí, tình cảm và giác quan nhưng nó lại là căn nguyên của những sinh hoạt ấy. Mọi hoạt động ấy sẽ chấm dứt khi Atman không hiện hữu. Nhưng Bràhman và Àtman ấy là như thế nào thì những nỗ lực cố gắng của triết lý Upanisad vẫn không thể nói về bản chất của nó một cách rõ ràng được. Như Brihad Aranyaka Upanishad dùng toàn bộ chữ “không” để miêu tả: “Bràhman không lớn, không nhỏ, không ngắn, không dài, không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không hơi thở, không trong không ngoài, không tiêu huỷ mà cũng không bị tiêu huỷ”, trong khi đó Kattha Upanishad lại miêu tả về: “Atman không thể nhận biết được bởi sức mạnh của trí óc, cũng không thể nhận biết được bởi giác quan.”

3.2.2. Quan điểm về luân hồi – nghiệp báo

Trong khi nền tảng của vũ trụ là Àtman và Bràhman, thì Upanisad còn cho rằng nền tảng nhân sinh quan là Karma (nghiệp) và Samsara (luân hồi). Àtman được coi như linh hồn cá biệt, gắn bó với thể xác con người từ đó họ đã lầm tưởng rằng đây là cái của ta, do ta. Và họ nghĩ rằng: “Chẳng có thiên đường, chẳng có tự do cuối cùng, chẳng hề có linh hồn nào ở thế giới khác”[14]. Những ham muốn về nhục dục là nguyên nhân gây lên nghiệp báo, chính sự ham muốn và hành động của cá thể ấy đã tạo ra một sự trói buộc, giam hãm dẫn đến một tiến trình luân chuyển tái sinh từ thể xác này đến thể xác khác, tiến trình ấy được gọi là sự luân hồi Samsara.

3.2.3. Quan điểm về duy vật và duy tâm

Không biết lý do vì sao  Trong khi tư tưởng của Upanisad biện minh về chủ nghĩa duy tâm, cho rằng có linh hồn tồn tại bất sinh bất diệt, khi nói về Àtman và Bradmana. Họ đã gặp rất nhiều khó khăn trước sự phản bác hay phê phán của phái duy vật, vô thần. Chúng ta không biết vì lý do hay mục đích gì mà phái duy vật, vô thần lại có những hiềm khích như vậy? Liệu rằng có phải sự tồn tại và phát triển của mỗi hệ phái mà phát sinh tư tưởng bất đồng như vậy. Họ cho rằng hàng đạo sĩ Bà-la-môn được xem như những vị tinh khôn và khéo léo bịa ra những bài kinh để lừa bịp kẻ ngu ngốc, còn về giáo lý thì được xem như một sự bịa đặt: “Đã ai nghe nói là thực tại từ đâu mà sinh ra chưa? Thần thánh mà cũng ra đời sau nó, vậy thì ai còn có thể nói rằng thực tại từ đâu mà sinh ra ?”[15]

Trong khi triết lý của Upanisad cho rằng, con người sau khi chết sẽ trở về hoà nhập với bản thể rộng lớn tuyệt đối kia, thì phái duy vật lại cho rằng: “Chẳng làm gì có sự siêu thoát nào ở trên thế giới khác. Và chẳng có linh hồn nào ở trên thế giới khác.”

Nhưng dẫu sao đi nữa, những tư tưởng duy vật, vô thần đã có tác động tích cực đến sự phát triển của triết học Ấn Độ sau này.

3.2.4. Lý tưởng giải thoát

Lý tưởng giải thoát được xem là vấn đề chính yếu, mục đích ấy là hạnh phúc vĩnh hằng, không chịu sự chi phối của định luật nghiệp báo, giải thoát khỏi khổ đau trong vòng luân hồi. Hạnh phúc vĩnh hằng ở đây được xem sự đồng nhất giữa Brahman và Atman ngay tại chính minh, cái hạnh phúc này không bị chi phối bởi vật chất. Như vậy, con đường nào để đạt được hạnh phúc giải thoát thực sự ấy?. Về phương diện này Upanisad cho rằng muốn đạt được giải thoát thì phải trải qua tiến trình tu tập bằng Yoga.[16]

3.3. Vị trí của Áo Nghĩa Thư trong kinh điển Vệ-Đà

Kinh văn Phệ-Đà được chia thành ba phần, Lê-Câu-Phệ-Đà (rgveda), Sa-Ma-Phệ-Đà (sāmaveda) và Dạ-Nhu-Phệ-Đà (yajurveda). Nhưng sau này, một bộ thứ tư được đưa thêm vào, đó là A-Thát-Bà-Phệ-Đà (atharvaveda). Thừa nhận kinh văn Vệ-Đà là chân lý cũng là điều kiện tiên quyết xác nhận một người theo Ấn Độ giáo. Mỗi bộ Phệ-đà trên đều có một bộ sách tập hợp căn bản đi theo, được gọi là bản tập (samhitā), được viết theo văn vần, bao gồm cách thức thực hiện nghi lễ và một bộ sách được viết bằng văn xuôi, gọi là Phạm thư (brahmana), giải thích ý nghĩa của các nghi lễ, tế tự. Bản tập liên quan đến tất cả các nhánh của Phệ-đà, trong khi các bài Phạm thư hệ thuộc vào những nhánh riêng.

Các bộ Phạm thư không phải là tác phẩm của một tác giả duy nhất và với thời gian, chúng được bổ sung thêm. Các thành phần được bổ sung bao gồm những lời giải thích về ý nghĩa bí mật của các nghi lễ và chân ngôn. Một số phần Mật giáo của Phạm thư được gọi là Sâm lâm thư (aranyaka), nghĩa là “các bài văn bí mật được tụng niệm trong rừng thâm”, và một số khác được gọi là Áo nghĩa thư. Điểm khác biệt giữa Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư không rõ ràng bởi vì cả hai đều xử lí những tài liệu tương tự nhau. Một số Áo nghĩa thư, ví như bộ Aitareya được bao gồm trong bộ Sâm lâm thư hệ thuộc, trong khi những bộ khác, ví như Áo nghĩa thư Brhadaranyaka, lại được xem là cả hai, Sâm lâm thư và Áo nghĩa thư. Tuy nhiên, các chủ đề về vũ trụ quan và siêu hình có vẻ giữ vai trò trung tâm hơn trong các bộ Áo nghĩa thư, và về mặt thời gian, chúng xuất hiện sau các Sâm lâm thư.

Thánh điển Phệ-đà, bao gồm các Áo nghĩa thư và tất cả các nhánh hệ thuộc, được biên tập và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng chỉ được viết lại hơn một ngàn năm sau đó, nhưng mặc dù vậy, việc lưu truyền được thực hiện rất nghiêm túc và trung thực – thậm chí trung thực hơn phương pháp sao chép bằng văn tự, như nhiều nhà nghiên cứu cho biết.

Trong khoảng thời gian từ những thế kỉ cuối trước công nguyên đến những thế kỉ đầu công nguyên, vai trò của việc tế lễ trong tôn giáo ngày càng phai mờ. Nhiều học phái phát sinh, ví như những nhánh chuyên về ngữ pháp tiếng Phạn, hoặc những nhánh chuyên về luật Tôn giáo (dharmasastra), phương pháp cai trị (arthasastra) và y học. Nhưng mặc dù vậy, các Bà-La-Môn thời đó là xem tất cả những tài liệu thuộc về thánh điển Phệ-Đà là thẩm quyền bậc nhất. Các bộ Áo nghĩa thư có vẻ như bị tách ra khỏi những nhánh Phệ-Đà hệ thuộc và được xem như một thể loại văn bản riêng.

C. KẾT LUẬN

Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền đạo học phương Đông nói riêng và cho nhân loại nói chung. Chính nơi ấy đã sản sinh ra nhiều trường phái, tôn giáo lớn trên thế giới. Có thể nói Ấn Độ là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học”. Đó là: “những  nhà tiên tri là những người sống ngoài phạm vi thông thường của xã hội. Các ngài không bị ràng buộc vào cách cư xử và cung cách của người dân bình thường mà ra đi để tầm nhìn của các Ngài có những chân trời rộng lớn hơn. Các Ngài thiết lập những con đường mới. Tôn giáo của các Ngài phóng khoáng và vươn xa.”[17]

Qua đó chúng ta thấy, thời kỳ sơ khai của kinh điển Veda chỉ chú trọng về nghi thức tế lễ, thế giới được xem như sự hiện hữu của các thần linh, chi phối đời sống đạo đức của con người. Thông qua những việc tế lễ mà mối quan hệ giữa con người và thân linh được thiết lập. Sự gia hộ, bảo trợ của thần linh được xem như rất cần thiết cho con người khi đó. Sau này, theo tiến trình thời gian tri thức của con người được nâng cao, họ muốn tìm hiểu về chính họ và muốn làm chủ chính mình, muốn tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ, tín ngưỡng vào thần linh đã dần phai mờ. Nhằm đáp ứng những nghi vấn ấy mà triết lý Ba-La-Môn giáo cũng dần được củng cố. Từ chủ nghĩa đa thần thời kỳ sơ khai, đến giai đoạn sau là chủ nghĩa nhất thần, cho rằng Brahmana là linh hồn tối cao tạo hoá ra muôn vật. Nhưng đến giai đoạn sau này, nền văn hoá triết học Upanisad ra đời, đã có vai trò và vị trí khá quan trọng trong kinh điển Veda. Ngoài nền tảng căn bản về vũ trụ là Àtman và Bràhmana, còn có nền tảng nhân sinh quan về Nghiệp, Luân hồi và tái sinh, cuối cùng là tiến trình giải thoát đạt được hành phúc vĩnh hằng. Có thể nói rằng tư tưởng triết học Upanisad là đỉnh cao của triết học Bà-la-môn giáo. Chúng ta có thể tìm thấy được tầm quan trọng của nó qua lời của triết gia Schopenhauer đã thốt: “Khắp thế giới không có gì lợi ích nâng cao tâm hồn con người bằng các Upanishad. Nó đã an ủi đời sống của tôi, nó sẽ an ủi tôi khi tôi chết”. Sự xuất hiện của Upanishad đánh dấu bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học và Upanishad đã trở thành tư tưởng quan trọng của triết học Bà la môn giáo. Và: “Người Ấn Độ mô tả người không có trí tuệ như con ếch ở trong giếng khô, hay giống như con cá không có nước”.[18] Qua đó chúng ta thấy rằng bước tiến rất quan trọng tiến tới sự đóng góp quan trọng nhất của con người là Trí tuệ.


THƯ MỤC THAM KHẢO

Doãn Chính (chủ biên). Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại. Hà Nội: NXB Thanh Niên, 2003.

Doãn Chính. Lịch Sử Triết Học Ấn Độ. Hà Nội: NXB Đại Học quốc gia Hà Nội, 2003.

Phúc Trung. Ấn Giáo hay Bà La Môn Giáo. (Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011). http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-148_4-10000_5-50_6-1_17-12_14-1_15

Thích Mãn Giác. Lịch Sử Triết Học Ấn Độ. TP Hồ Chí Minh: NXB Văn Hoá Sài Gòn, 2007.

Thích Mãn Giác. Triết Học Ấn Độ. Saigon: Viện đại học Vạn Hạnh, 1967.

Thích Tâm Quang. Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2007.

Thích Tâm Quang. Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007.

 

[1] Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ (TP Hồ Chí Minh: NXB Văn Hoá Sài Gòn, 2007) 10.

[2] Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ (Hà Nội: NXB Đại Học quốc gia Hà Nội, 2003) 128.

[3] Doãn Chính (chủ biên), Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại (Hà Nội: NXB Thanh Niên, 2003) 64-65.

[4] Doãn Chính (chủ biên), Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại 62-63.

 

[5] Doãn Chính (chủ biên), Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại  87.

[6] Thích Mãn Giác,Triết Học Ấn Độ (Saigon: Viện đại học Vạn Hạnh, 1967) 61.

[7] Thích Tâm Quang, Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại (Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2007) 27.

[8] Phúc Trung, Ấn Giáo hay Bà La Môn Giáo. (truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011). http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-148_4-10000_5-50_6-1_17-12_14-1_15-1/

[9] Aitareya Up.1

[10]  Rig-vèda, X, 90

[11] Brihad Aranyaka Up. 20.2.1

[12]  http://vi.wikipedia.org.

[13]  Doãn Chính (chủ biên), Đại cương Lịch sử Triết học Phương đông Cổ đại 92.

[14] Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ242.

[15] Doãn Chính (chủ biên), Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại 102.

[16] Doãn Chính (chủ biên),  Đại Cương Lịch Sử Triết Học Phương Đông Cổ Đại 91.

[17] Thích Tâm Quang, Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007) 8.

[18] Thích Tâm Quang, Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại  (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007) 24.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s