LUẬN VĂN PHẬT GIÁO

        I.     DẪN NHẬP

Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên.Và sự du nhập ấy đã phát triển dần và đạt đến đỉnh điểm vào thời Lý Trần.Có thể nói vào thời này, Phật giáo ảnh hưởng hết sức tự nhiên đến mọi lảnh vực trong đời sống của người dân Việt.Sự ảnh hưởng ấy đã góp phần tạo nên những đặc trưng nổi bật trong con người Đại Việt.Đó là con người vừa biết kiểm soát thân tâm, phát triển tận cùng khả năng giác ngộ hoàn toàn, lại vừa không ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, hết mình phục vụ cho nhân sinh dân tộc.Góp sức xây dựng một đất nước Việt Nam, thật sự tự chủ, độc lập và có đủ nội lực đối kháng những thế lực xâm lược mạnh mẽ từ bên ngoài.Cụ thể là cuộc xâm lăng của nhà Tống dưới triều lý (1075-1077), và ba cuộc xâm lăng của quân Nguyên dưới triều nhà Trần(1257-1258, 1258,1287-1288). Cả hai cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Hoa phát động đều khốc liệt và kéo dài.Nhưng thắng lợi cuối cùng lại thuộc về nước Việt nhỏ bé.

Từ những  quan  điểm và dữ kiện lịch sử nêu trên cho thấy trang lich sử hào hùng thời đại Lý Trần là độc nhất không bao giờ lập lại.Dĩ nhiên bên cạnh yếu tố quan trọng nhân bản là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc,còn có Phật giáo đóng vai trò hướng đạo.Một trào lưu tư tưởng hưng thịnh, một dòng sản phẩm văn hóa thông suốt và phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước từ thế kỷ x-xiv.

Trên cơ sở đó từ trước đến nay, đã có khá nhiều học giả nghiên cứu về lịch sử văn học thời Lý Trần với các tác phẩm như: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên,Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp…Gần đây có bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 1 của Nguyễn Lang,Tập sách Thiền Học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, tập Thiền Học Đời Trần của Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Ngoài ra còn có một số giáo trình lịch sử văn học của các trường Đại Học và các bài viết của Trần Lý Trai trong Tạp Chí Văn Học.  Đặc biệt, khi nhận định về hình ảnh con người Đại Việt Mạn Đà La đã viết trong bài”Vài Nét Tìm Hiểu Về Trần Nhân Tông,Vị Tổ Sáng Lập Dòng Thiền Trúc Lâm”như sau :”Một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn,mặt khác không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho cuộc sống,bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình”.Thông qua nhận định trên của Mạn Đà La, người viết muốn trình bày cụ thể,rõ nét những đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt vào thời Lý Trần. Nhầm mục đích khơi dậy những trang lịch sử văn học hào hùng rực rỡ của dân tộc,những đặc thù của Phật giáo thời Lý Trần. Để một lần nữa khắc sâu hơn kiến thức lịch sử Phật giáo,để mọi giai tầng thế hệ cùng chung niềm tự hào và cảm xúc,cùng thấy rõ giá trị đích thực của Phật giáo, với những đóng góp tích cực trong cuộc trường trinh dựng nước và giữ nước của cha ông ta

Như vậy trong phạm vi giới hạn ở bài thu hoạch này, người viết chỉ chọn con người Đại Việt trong thời đại Lý Trần làm đối tượng nghiên cứu thông qua ba tác phẩm” Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông, Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông,Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ, và một số Tạp Chí khác….

Để làm rõ hơn vấn đề thông qua nhiều tác phẩm, người viết sử dụng phương pháp tổng hợp.Ngoài ra để tránh sự trùng lập giữa các khái niệm dẫn đến sự trùng lập về mặt ý thức, mà văn học là công cụ thể hiện, người viết chọn phương pháp so sánh, nhầm tránh sự đồng hóa lẫn nhau, phát huy được tính đặc trưng, đặc thù của đối tượng nghiên cứu.

Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp đối chiếu phân tích để làm rõ vấn đề. Đồng thời người viết chủ yếu dựa trên tư tưởng Phật giáo và tư tưởng dân tộc làm tiêu chuẩn, tôn trọng những nguyên tắc thẩm mỹ của một tác phẩm văn học.

ĐỀ CƯƠNG

  1. PHẦN DẪN NHẬP

Phần này người viết  trình bày về lý do chọn đề tài,mục đích nghiên cứu,lịch sử vấn đề, phạm vi ,đối tượng và phương pháp nghiên cứu .

  1. PHẦN NỘI DUNG

Trong phần này người viết trình bày vấn đề qua bốn ý chính

  1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN
  • Bối cảnh lịch sử
  • Bối cảnh xã hội
  • Bối cảnh Phật giáo
  1. GIỚI THIỆU VĂN HỌC PHẬT GIÁO THỜI LÝ TRẦN
  1. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN
  1. QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI TÂM
  1. CON NGƯỜI GIÁC NGỘ VỚI PHẨM HẠNH CAO CẢ
  1. CON NGƯỜI ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI
  • Con người đóng góp xã hội trong chiến tranh.
  • Con người đóng góp xây dựng xã hội trong thời bình
  1. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT

C.PHẦN KẾT LUẬN

B.NỘI DUNG

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN.

a)    Bối cảnh lịch sử :

Ngay khi vua Lê Long Đĩnh mất (1009), Đào Cam Mốc và sư Vạn Hạnh hợp lực phò Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, triều Lý chính thức ra đời.Trong lịch sử Việt Nam, đời Lý là một triều đại lớn, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các lĩnh vực như chính trị (dời đô từ Hoa Lư ra La Thành đặt tên là thăng Long, Đặt quốc hiệu nước là Đại Việt, và Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của nước ta goi là An Nam Quốc), về quân sự ( phá tan âm mưu của Tống trong việc lợi dụng Chiêm Thành tấn công ta, phá tan tiềm năng xâm lăng mà Tống đã dày công chuẩn bị và tập hợp ở châu Ung, châu Khâm và châu Liêm thuộc Quảng Đông- Quảng Tây Trung Quốc, và ta đã toàn thắng trong trận quyết chiến Như Nguyệt 1071), về văn hóa ( thành lập văn miếu, mở khoa thi đầu tiên).

Sau khi Đại Việt thắng lợi trận Chiêm Thành,năm 1069 triều Lý mở rộng lãnh thổ ở ba châu (Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính) tương đương với toàn bộ tỉnh Quảng Bình cộng với phía bắc tỉnh Quảng Trị. Triều Lý trãi qua 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng). Tháng 12-1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Triều Trần được dựng lên từ đó ( 1225-1400 ) và trở thành một trong những triều đại lớn của lịch sử Việt Nam. Nhìn chung thể chế chính trị, kết cấu giai cấp xã hội, đặc trưng kinh tế và văn hóa của triều Trần có những điểm tương đồng với triều Lý, khác nhau cũng chỉ ở mức độ mà thôi.Cho nên sau này các nhà nghiên cứu đã ghép chung hai triều đại tiêu biểu Lý Trần đặt tên chung cho cả giai đoạn từ thế kỷ thứ x-xiv. Đại Việt thời Trần là một trong những quốc gia hùng cường, có uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kiêng sợ, lân bang phải kính nể. Thời Trần là thời của những nhân vật lịch sử sáng chói. Về chính trị  thì có các vị vua nổi tiếng như Trần Thái tông, Trân Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông và các vị vương tước xuất chúng mà nổi bật nhất là Trần Nhân Tông.Về quân sự thì có các vị mưu sĩ và dũng tướng như Trần Thủ Độ, Lê Tần,Trần Quang Khải,Trần Nhật Duật,Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão…mà anh hùng nhất là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Người khai sinh ra nền khoa học quân sự Việt Nam. Về văn hóa có Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Hưng Đạo…Trãi qua 200 trăm năm cầm quyền triều Trần đã để lại cho lịch sử, những dấu ấn sâu sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

B) Bối cảnh xã hội: Như vậy sau khi nước ta được giải phóng khỏi ách thống trị ngoại xâm, giai cấp phong kiến nhanh chóng tiến hành xây dựng nhà nước Đại Việt .Với tinh thần yêu nước, dân tộc Đại Việt đã phục khởi mạnh mẽ, hồi sinh những tiềm năng,làm thay đổi bộ mặt của đất nước từ công, nông, thương nghiệp, hành chính quân sự. Đặc biệt tầng lớp lãnh đạo hết sức sùng thượng Đạo Phật mà không hề bài xích tôn giáo khác.Nhìn chung chính sách phù hợp của bộ máy nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đúng mức đến tất cả.Vì thế sau ngày độc lập chưa đầy 100 năm, dân tộc ta đã thắng quân Tống, ba lần đẩy lùi bước tiến xâm lược của Nguyên Mông-Một đế quốc vĩ đại từng gồm thâu trọn Châu Á và một nữa Châu Âu.

Nhân tố tạo nên những kỳ tích trong thời đại này là con người. Mẩu người tự tin hào hùng, phóng khoáng và trong sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ văn minh có ngày càng cao hơn.Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, những mẫu người tuyệt vời-mà muôn đời sau thế nhân vẫn ngưỡng mộ-đã hình thành và phát huy tối đa năng lực giác ngộ bản thân để cống hiến và tô điểm cho đời, cho dân và cho nước, dựa trên cơ sở bình đẳng vô sai biệt đối với vạn pháp của nhà Phật .

C) Bối Cảnh Phật Giáo: Qua “Sáu lá thư”-tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn học và Phật giáo Việt Nam, đã cho thế hệ sau biết biết được về sự ảnh hưởng nhất định của Phật giáo trong đời sống xã hội và sinh hoạt của người dân.”Bằng nổ lực tiếp thu có ý thức phê phán, mà khi người nước ta bắt đầu hùng cứ đế vương, tập thể Phật giáo đã có thể đóng góp một cách tích cực vào việc giải phóng và bảo vệ đất nước trước những tham vọng thôn tính của tập đoàn thống trị Trung Quốc. Cũng nhờ nỗ lực ấy, mà Phật giáo đã thẩm thấu đời sống thường ngày của người dân Việt Nam. Trong liên hệ này, cần nói thêm là sự tiếp thu đó không chỉ xảy ra ở một lĩnh vực”[1]. Tuy nhiên Phật giáo giai đoạn này lại mang tính quyền năng.

Đến các thế kỷ VI-VII-VIII và IX, ở Việt Nam có rất nhiều thiền phái kế tiếp nhau thành lập và từng bước khẳng định vị trí của họ. Trong thế kỷ thứ X, Việt Nam giành được quyền tự chủ và khởi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, cũng cố chủ quyền và ý thức dân tộc. Trãi qua các triều đại Đinh-Ngô-Tiền-Lê,bên cạnh những nhà lãnh đạo có phần giỏi hơn các các vua thời trước về phương diện học thức, không thể không nhắc đến các thiền vị Thiềnsư: Khuôn Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Giác Hại…những vị thiền sư được trọng vọng và có vị trí cao trong bộ máy nhà nước (làm quốc sư, cố vấn chính trị).

Sang đời Trần, vào những năm đầu thời đại, ba phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi-Vô Ngôn Thông-Thảo Đường dần dần nhập thành một và đưa đến sự phát triển lớn của Phái Thiền Yên Tử-Thiền phái duy nhất đời Trần. Theo Nguyên Lang, Đây là thời đại ”Phật giáo nhất tông”[2]. Có thể nói, “Phật giáo Nhất Tông” là đại diện cho Phật giáo đời Trần trong lịch sử Phật giáo Việt nam. Trong triều đại này, Đạo Phật đã phụng sự triệt để không chỉ cho đời sống tâm linh giải thoát mà con cho đời sống xã hội. Như lời của Thiền sư Viên Chứng phát biểu về nguyên tắc hướng dẫn đời sống người dân của một nhà chính trị: đã là người phụng sự dân thì phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình,lấy lòng dân làm lòng mình, nhưng đồng thời cũng không quên trao dồi việc tu học bản thân.

2. GIỚI THIỆU VĂN HỌC PHẬT GIÁO THỜI LÝ TRẦN

Sau khi giành được độc lập,song song với việc xây dựng quốc gia , người Việt Nam còn bắt đầu xây dựng nền văn học viết của mình.Trong văn học Việt Nam từ thời Ngô đến Đinh Lê Lý Trần Hồ thì chỉ có những thành tựu chủ yếu ở hai triều Lý Trần, cho nên được gọi là văn học Lý Trần. Đây là dòng văn học viết đầu tiên của Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển trong bối cảnh nước ta vừa thoát ách đô hộ Bắc thuộc. Hoàn cảnh đó đã tác động trực tiếp đến văn học: “ Đó là thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển, với những đặc điểm riêng biệt. Nó có nhiều ưu việt và tích cực. Các triều đại phong kiến này đã có những đóng góp to lớn vào việc kháng chiến ,kiến quốc. Âm vang của những chiến công chống xâm lược, của những thành tích xây dựng, và của những thành tựu văn hóa to lớn làm cho văn học thời kỳ này có một dáng vẻ thật huy hoàng, lộng lẫy”[3].

Hầu hết các tác phẩm văn học thời này đều dùng chữ Hán làm chất liệu sáng tác. Đến cuối đời Trần, văn học chữ Nôm bắt đầu xuất hiện. Người Việt lúc này chỉ tiếp thu những thể loại văn học phù hợp và thích ứng với trình  độ tư duy, nhu cầu của mình và yêu cầu chung của xã hội.Trong số những thể loại chính, đạt nhiều thành tựu hơn cả là thơ thiền, văn chiếu, thơ tự sự và phú.Thơ thiền thể hiện tư tưởng Thiền tông và bày tỏ cảm xúc mang ý vị Thiền.Tác giả của những thể thơ này đa phần là những vị Thiền sư, những nhà Phật học.Quan điểm sáng tác của các thi sĩ thiền bao gồm nhiều lĩnh vực trong đời sống, nhưng lĩnh vực nào cũng có hai khuynh hướng:

Sống cho mình: là tự trao dồi năng lực sống, tự kiềm chế và vượt thoát lợi danh, tài sắc,hòa nhập vào cuộc sống bằng những bản tánh ”cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ hoàn toàn.

Sống cho người: Thiền sư mong cầu giải thoát không có nghĩa là thờ ơ với thực tại xã hội, mà ngay lúc dầu sôi lửa bỏng cũng là thiền.Với tâm không dính mắc thì đời là đạo, tâm ấy chính tâm thiền.Do đó mọi người “không ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình”.

Văn học là nhân học dù ở thời đại nào cũng thế, Nó phản ảnh hiện thực cuộc sống của con người.Vì thế  trong bài về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Trần Đình Sử có viết “Trên thực tế vấn đề con người cá nhân trong văn học không chỉ là nổi băn khoăn ám ảnh đặt ra trong giới nghiên cứu chúng ta, mà từ lâu đã là đối tượng khảo sát và ngày càng thu hút mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới”[4].

Như vậy xưa giờ nhiều nhà nghiên cứu đã tốn nhiều công sức để tìm hiểu về con người trong văn học cổ Việt Nam. Đặc biệt có khá nhiều bài viết đề cập đến con người trong văn học thời Lý Trần.Đại để, các nhà nghiên cứu cho rằng con người trong văn học Phật giáo Lý Trần là con người bản lãnh, vô úy, vô ngôn, vô ngã, vô tạp,vô nhiễm, vô niệm, con người tự chủ, tự do phá chấp với trí tuệ siêu Việt đầy sức mạnh. Con ngưới ấy có thể hòa nhập vũ trụ , mang chiều kích lớn. Đó cũng là con người biết kết hợp đạo vào đời,nhập thế tích cực, vào đời để cứu độ nhân sinh, mang những gì tốt đẹp nhất đến con người.Điều đó giảo thích tại sao Thiền sư Huyền Quang, vị Tổ thứ ba Thiền phái Trúc Lâm, tâm đã thanh tịnh, lòng đã trống không mà vẫn cảm nhận cái đẹp dạt dào của mùa xuân khiến cho người đời sau dị nghị trong “xuân nhật tức nhật”[5].

 

3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN

3.1 QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI TÂM

Con người có thể ung dung tự do tự tại giữa cõi đời này, là nhờ đã tìm thấy được Phật ở trong lòng. Vì thế mà không ngại gì xông pha với đời.Quan điểm Phật tại tâm của Tuệ Trung Thượng Sĩ trong tác phẩm ” Phật Tâm Ca”  đãthể hiện rõ tư tưởng hòa quang đồng trần ấy. Đây là sự kết tinh của một tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam, và Phật giáo Việt Nam từ thời vua Lý Thánh Tông, cho đến vua Trần Thái Tông và sau này là Trần Nhân Tông, cũng như các thành viên Thiền phái Trúc Lâm. Chính Trần Nhân Tông sau khi trở thành Tổ khai sáng thiền phái, đã đúc kết tư tưởng này thành tư tưởng con người và Phật giáo Đại Việt. Điều này được ghi vào trong thượng sĩ hành trạng với lời nhận định như sau ”Hổn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ, Cố năng thiệu long pháp chủng, du dịch sơ cơ”(Thượng sĩ nhờ hòa quang đồng trần, cùng vật chưa từng xúc phạm nên có thể thiệu long giống pháp, dỗ dắt kẻ sơ cơ)[6]. Ngay bài “Phật Tâm Ca”[7], Tuệ Trung đã khẳng định Phật không phải bậc sáng tạo, Thượng đế hay Thiên thần gì cả; Phật là con người cụ thể, luôn hóa hiện ngay giữa cõi đời trần tục ”Nhược tâm sinh thì thị Phật sinh”(khi tâm sinh thì Phật sinh), và Phật thị hiện giữa đời chẳng khác nào hoa sen thơm ngát vươn lên trong bùn lầy nhơ bẩn “Liên nhị hồng hương bất trước nê”(Nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm bùn) như trong bài “Thị Chúng” [8] mà Ông đã cụ thể hóa bằng hình ảnh hoa sen.Thực ra đây cũng là chủ trương có từ thời Đức Phật, sự chứng đạt là do tự thân tu tập mà vượt thoát từ trong cuộc sống trần tục.Tuệ Trung dấn thân sống dung tục với đời mà đạt ngộ với tông chỉ của thiền sư Tiêu Diêu. Tông chỉ ấy Ông từng trả lời với Trần Nhân Tông ”Hãy quay về tự thân mà tìm thấy tông chỉ, không thể từ ai khác”. Nghĩa là phải tự trở về với chính mình để an trú giải thoát. Do đó chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy Tuệ Trung trao Tông chỉ cho Trần Nhân Tông- Người khai sáng ra dòng thiền Trúc Lâm hoạt động cho đời sau này.

Rõ ràng Tuệ Trung là người thực hiện chủ trương tìm thấy tông chỉ trong cuộc sống đời thường, nhất là trong bối cảnh xã hội Đại Việt luôn chuẩn bị để đối phó và đập tan các cuộc chiến tranh xâm lược thường trực.Đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền đời sống sinh hoạt dân tộc. Chủ trương hòa quang đồng trần, tức là phải nhập cuộc với đời sống trần tục, và phải làm cho đời thêm sáng tươi là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ dành cho giới Phật giáo mà còn phải huy động toàn thể sức mạnh cả dân tộc.Trên cơ sở đó, chủ trương hòa quang đồng trần được phát biểu với nhiều dạng thức khác nhau trong các tác phẩm của Tuệ Trung và được vận dụng vào trong đời sống thực tiển. Mục đích là làm hưng thịnh đạo pháp, tức là làm phồn vinh đất nước và ngược lại. Cho nên mỗi cá nhân không thể tách rời cộng đồng, không thể buôn bỏ cộc đời, chỉ trong sanh tử mới tìm thấy không có sanh tử, ở trong phàm tục mới có bậc Thánh giác ngộ ở đời.Với cái nhìn như thế các khái niệm đối đãi cần được đập vỡ từ trong nhận thức:

Niết bàn sanh tử mạn la lung

Phiền não bồ đề nhàn đối địch”

( Niết bàn và sanh tử ràng buộc lỏng lẻo thôi-Phiền não và bồ đề coi thường cả sự đối nghịch của chúng).Cũng ý tứ này trong bài “Trữ từ tự cảnh văn”[9], Tuệ Trung tuyên bố :

Cầu chân như nhi vọng niệm,

Tự dương thanh chỉ hưởng tương ma

Xả phiền não như thủ nê hoàng

Như nhật ảnh đào hình ban loại“.

(Tìm chân như mà giất vọng niệm

Có khác chi dối nhau bằng cách thét lớn để ngăn tiếng vang

Bỏ phiền não để ngăn niết bàn

Thật chẳng khác trốn hình trong nắng trời )

Theo Thượng Sĩ, kinh điển, giới luật, tọa thiền, niệm Phật chỉ nhầm giới thiệu con đường phương thức sống. Con người cần phải sống và thực hành mới có cơ duyên tiếp cận và chứng đạt chân lý.

Như vậy, với quan điểm Phật tại tâm, con người không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức mình. Ngay từ đầu đời Trần, Quốc sư Viên Chứng-thầy của Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm về Phật “Tâm tịch nhi tri , thị danh chân Phật”  (Lòng lặng mà biết, đó là chân Phật )[10].tức là con người thấy rõ chân lý một cách trực tiếp, Đồng nghĩa “kiến tánh”, thấy Phật tính tại tâm và hằng sống theo bản tính thường nhiên, trong sáng, liễu đạt các pháp. Đọc Khóa Hư Lục, chúng ta cũng thấy Trần Thái Tông xác lập con người giác ngộ là con người kiến tánh.Đó là con người biết “Cố thù nội khán”(quay đầu nhìn vào phía bên trong). Tại đây, sự trở về quê nhà chính là con đường giã từ “thả lòng buôn bỏ”sự đắm chìm dục lạc của kẻ lang thang phong trần như bài Khải bạch của Lục thời sám hối khắc họa:

Phượng hoàng đài bạn, hôn hôn thị tửu tham hoan;

            Anh Vũ lâu tiền, mộng mộng mê hoa thủ lạc

(Bên gác Phượng hoàng say đắm cuộc vui chè rượu

Trước lầu Anh Vũ miệt mài cái thú mê hoa)[11].

Đó là hình ảnh về quê nhà, chẳng phải tìm kiếm ở nơi xa xôi của ảo ảnh thiên đường, hay niết bàn mà tác giả diễn đạt bằng hình ảnh “Nhật Viễn gia hương vạn lý trình”(Ngày hết xa quê vạn dậm trường)[12]trong bài Phổ Thuyết Tứ Sơn hay”Đồ trình bất thiệp gia hương đáo”(quê hương đến được đâu cần lối) trong “Niêm tụng kệ”[13], “Bất lao tiến bộ đắc hoàn gia”(đường xa không bước vẫn về) trong “Niêm tụng kệ 19”[14]

Trần Thai’ Tông cũng đã phát biểu dứt khoát “Phật thân tất ngã thân thị vô hữu nhị tướng” . (Thân ta tức là thân Phật, không co’ hai tướng) .[15]

Rõ ràng Phật là tâm, phàm phu và bậc Thánh chỉ là khái niệm giả danh trên ngôn từ chữ nghĩa của tư duy hữu nghã phân biệt :

Tích vô tâm

Kim vô Phật

Phàm Thánh nhân thiên như điện Phật

Tâm thể vô thị diệt vô phi

Phật tính phi hư hiệu phi thật”

(Xưa không co’ tâm

Nay không có Phật

Phàm Thánh người trời nhanh như chớp dật .

Tâm thể không phải cũng không trái

Phật tính không hư cũng không thật )

Ở “Phật Tâm Ca” Tuệ Trung thượng sĩ đã hát bài ca về Phật giữa trần gian như thế, Phật hoàn toàn không ngoài tâm thức biến hiện. Phật với ta chẳng có gì khác .Phật và ta ở tại cuộc sống đời thường. Con người thật của chúng ta là Phật. Còn con người giả mà chúng ta tưởng thật với cái tâm vọng động của tham sân si là con người giả. Mỗi người cần trở về với con người thật. Đó là lời giải đáp tại sao chúng ta hiện hữu trên đời này.

Quan điểm Phật tại tâm đã cung cấp cho con người Đại Việt một lý tưởng sống đẹp , cao quý đủ để tạo một cảm hứng sáng tạo vươn lên, không những cho một đời mà nhiều đời , thậm chí cho đến khi mỗi con người đều trở thành một vị Phật. Sự thành Phật ở đây chính là nhận chân con người thật của chính mình ngay ở cỏi lòng. Có gì để nói khi cuộc sống đang trôi trãi, một tâm thức đang vận hành. Vấn đề đặt ra là thực tại luôn nhiệm màu đối với con người được thể hiện trong Phật Tâm Ca.

Phật Phật Phật bất khả kiến

Tâm Tâm Tâm bất khả thuyết

( Phật Phật Phật không thể thấy được

Tâm Tâm Tâm không thể nói được ).

Tuệ Trung đã tuyên ngôn thông điệp thiền “Bất lập văn tự , trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật”. Thế là chừng nào con người còn an trú trong ngôn từ, trong đôi kính màu trần thế, thì còn xa rời thực tại – bây giờ- ở đây. Tuệ Trung chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật Tam Ca là như thế. Còn thượng sĩ Ngữ Lục thì cho rằng khi mê không biết ta là Phật , hay Phật và chúng sanh không khác nhau:

Mi tao tiêm hoành ty khổng thùy

Phật giữa chúng sanh độ nhất diện “.

( Mày ngang mũi dọc cũng như nhau

Phật với chúng sanh không khác mặt ).[16]

Như vậy cuộc sống hướng nội, tìm cầu chân lý tối thượng là xu hướng sống của người dân thời Lý Trần “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm”[17] . Tư tưởng này được lập đi lập lại, như một điệp khúc trong đời sống tu tập của thiền gia Trần Thái Tông “Hãy quay đầu lại, nhìn vào bên trong nội tâm” hay là “Nếu có thể quay sang phản chiếu lại mình, thì sẽ thấy được tánh mà thành Phật”[18]. Với xu thế hướng nội và thiền biện tâm này, yếu tố con người được đề cao tột độ, được phát huy triệt để trong đời sống hằng ngày cũng như kinh tế chính trị xã hội của đất nước.Ưu thế của “Phật giáo biện tâm”[19] này ở chổ ai cũng thực hành được, không phân biệt tại gia hay xuất gia, thành thị chợ búa hay độc cư trên núi, trong rừng, nếp sống căng thẳng ngoài trận mạc hay sống yên ổn hòa bình ở hậu phương.

Vị Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông cũng đã tuyên bố với mọi người trong bài Cư Trần Lạc Đạo:

Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa

Nhận thấy bản , nên ta tìm Bụt

Chỉn mới hay chính Bụt là ta”

Ngài kêu gọi mọi người hãy nhận chân lấy con người thật của chính mình, chứ không nên tìm chân lý ở đâu xa.Những lời nói này là cốt lõi, là tinh túy tư tưởng thiền Trúc lâm. Một tư tưởng Phật tại tâm hết sức lạc quan, đề cao vinh quang con người lên đến tột bực, đến địa vị Phật. Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn khi nào tâm thức bước ra khỏi vòng lẩn quẩn phân biệt ”Nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân Tông tâm đắc trong Thượng Dĩ hành trạng, “ta trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược”. Trong hội thứ nhất Ông khẳng định rõ :

“Mình ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm

Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tánh

Nữa ngày rồi tự tại thân tâm”[20]

Thực tại ấy lừng lựng ra đấy, từ xưa đến nay phô bày mọi nơi, mọi lúc mà Trần Nhân Tông cho là tùy duyên mà vui với đạo trong Cư Trần Lạc Đạo Phú. Thể chứng thực tại là thể chứng Phật tâm, là tự tại giải thoát Niết Bàn ngay giữa dòng đời , đúng như tinh thần hòa quang đồng trần của Tuệ Trung :

Đói thì ăn chừ,cơm tùy ý

Mệt thì ăn chừ, làng không làng

Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ

Lắng xuống chừ ,đốt giải thoát hương”

Với quan điểm tư tưởng đó của Phật giáo nói chung, Thiền Tông thời Lý Trần nói riêng đã tạo nên đặc trưng con người Đại Việt thời này một bản lĩnh tự tin đặc biệt. Bản lĩnh này là đĩnh cao của tinh thần nhân văn thời đại, con người được nâng lân ngang tầm với Phật. Con người tin vào bản chất trong sáng thuần khiết vô biên và khả năng vô hạn của bản thân.Từ đó giúp họ có sự tự lực, tự cường, không cần cầu hay hệ lụy, lệ thuộc vào bất cứ cái gì bên ngoài. Và nhờ bản lĩnh tự tin này mà con người Đại Việt thời đó đã không sợ địch, dù địch lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần và có bề dày chinh phục Á Âu đáng nể phục”[21].Không chỉ chế phục được nổi khiếp sợ, quân dân ta thời Lý Trần còn xóa nhòa được mặc cảm về một đất nước nhỏ bé vừa thoát khỏi ách đô hộ.Tinh thần vô ngã đã giúp chủ thể-Dân tộc Đại Việt nâng mình lên vượt qua ngưỡng cửa của một thế giới mới mẻ và kỳ diệu .Điều này cho thấy con người Đại Việt đã thể nhập chân tâm đến chổ “Nhất Như” vì “thiền đường chính là chiến trường, chiến trường chính là thiền đường”.

3.2 CON NGƯỜI GIÁC NGỘVỚI NHỮNG PHẨM HẠNH CAO CẢ.

Tinh thần Thiền tông Việt Nam mà các vị vua Trần chủ trương xuất phát và hình thành từ con người “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm”. Tự thân quan điểm này đã khẳng định tính bình đẳng giải thoát của con người trước cuộc sống, đồng thời nó cũng đề xuất một thái độ sống để làm hóa hiện con người thật, giác ngộ từ trong cuộc sống vốn không bình đẳng. Từ đó một nếp sống mới được định hình trong cuộc sống đời thường.

Rõ ràng con người giác ngộ là con người đã tìm ra được chính mình. Phật và chúng sanh không khác.Sinh mệnh con người rốt cuộc chỉ “Tựa ngọn đèn trước gió, thân hư bọt, nước đầu ghềnh”. Cuộc đời thật mong manh mộng mị. Con người cần giáp mặt vượt thoát. Ngay cả công danh, chỉ là một giất mộng dài. Nhờ nhận chân cuộc đời là mộng, tâm thức con người mở rộng không cùng, độ lượng hết thảy. nhờ triết lý ấy mà Trần Thái Tông tỉnh thức, trở thành bậc vĩ nhân, thành vị minh quân của quốc gia, thành bó đuốc của thiền tông, hiếu nghĩa với anh em, chung tình với người yêu, sẳn sàng xông trận giữa làn tên đạn, xem tính mạng như lông hồng, xem ngai vàng như chiếc giày rách, miễn sao ích nước lợi nhà. Phải chăng con người giác ngộ là con người luôn bước ra ngoài thế giới “Đáo xứ mộng trung huyết mộng”.Con người giác ngộ cũng là con người tự do ra vào thế giới vô thường ao ảnh. Với tinh thần vô trước, vô trú, con người bước ra khỏi thế giới tư duy hữu ngã, nhị nguyên phân biệt của sự giới hạn hai đầu giữa sinh và tử, đến và đi, có và không, một và khác của các cập phạm trù đối đãi. Họ là con người ung dung tự tại, đi bất cứ nơi nào họ muốn.Trời vẫn xanh, đất vẫn nở hoa, đâu cũng pháp tính chân như không khác. Để vươn tới thế giới tự do, con người đã vượt qua tất cả giáo điều, bước vào đời sống an nhiên tự tại. Tất cả khái niệm, lối tư duy hữu ngã sáo mòn rũ bỏ thay vào đó là thái độ sống vô trước, vô chấp. Con người đó sẽ liễu đạt “ tâm tức là Phật không cần tu thêm gì cả” ( tâm tức thị Phật bất giả tu tiêm). Tuệ Trung Thượng Sĩ từng tiêu do, phóng cuồng trong thế giới vô thường. Trong ảo mộng phù du, cấu bẩn của xác thân, con người tự chuyển hóa, thanh tịnh cõi lòng. Vì thế Tuệ Trung mới xác định” thanh tịnh pháp thân”chính là “ra vào trong nước đái trâu, chui rúc giữa đóng phân ngựa”.rõ ràng có sự đồng điệu giữa những con người giác ngộ.Từ trong ý niệm “trong ảo sắc cũng là  chân sắc; nơi phàm thân cũng là pháp thân”,Trần Thái Tông đã ung dung cất lân tiếng cười trào lộng của tâm hồn khai phóng “Lão tăng man đạo năng an cánh. Tiếu sát bàng quan bất tự tri”(Tăng già nói dối an rồi đó,Cười ngất người ngoài chẳng tự hay như Niêm tụng kệ có nói)[22].

Đó cũng chính là hình ảnh con người vô ngã bước ra từ thế giới thực tại duyên khởi, thể nhập với đời.Con người hiện hữu do các duyên thuộc thế giới tâm lý và vật lý mà sinh.Mỗi người tự có các mối liên hệ mật thiết với tha nhân, xã hội, thiên nhiên mà không bao giờ tự nó có thể hiện hữu một mình. Do đó con người là một thực thể vô ngã.Con người vì muốn nắm giữ cái ngã nên cảm thọ khổ đau ở đời giữa sự thật vô thường, vô ngã.

Thời đại Lý Trần là thời đại hình tượng con người vô ngã, được thể nhập vào đời sống hiện thực. Trần Thái Tông là nhà lãnh đạo khéo vận dụng triết lý con người vô ngã để thực thi công cuộc xây dựng đất nước Đại Việt. Trong bài Phổ Thuyết Sắc thân, Trần Thái Tông khuyến cáo con người, cần nhận thức về con người sự thật vô ngã để bước ra ngoài thế giới khổ đau do tự thân chiêu cảm: “Nhĩ khả tử tế lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, ná xứ đắc hữu? Cái do niệm khởi duyên hội, ngũ uẩn hợp thànhthe63 mạo vọng sinh, hình dung giả xuất; vong chân vong bản, hiện ngụy hiện hư, Hoặc nữ hoặc nam, hoặc nghiên hoặc xú, tận thị phóng tâm phóng khứ,đô vô thoái bộ hồi quy. Khu trì sinh tử lộ đầu, thất khước bản lai diện mục” (các người hãy xem lại cho tường, sắc thân kia chưa vào bào thai thì do đâu mà có? Ấy là do “niệm”nhóm “duyên” tụ; Ngũ uẩn hợp thành.Dáng vóc lầm sinh, hình dung giả lộ. Quên thật quên gốc; Hiện dối hiện hư. Hoặc gái hoặc trai, hoặc sinh hoặc xấu. Hết thẩy đều do tâm rời bỏ; Không làm sao trở gót quay về)[23].

Thẩm thấu triết lý vô ngã trong hiện hữu của con người, mỗi cá thể có thái độ sống vô chấp “cái này không phải là tôi , tự ngã của tôi “, đâu đâu cũng là thế giới chân tâm, thanh tịnh. Chính thái độ sống theo tinh thần vô ngã , hướng nhân loại sống và hành xử theo lý vô ngại trùng trùng duyên khởi với tất cả giá trị hạnh phúc mong chờ .

Tinh thần vô ngã  còn tạo cho con người lòng vị tha-một yếu tố tối cần thiết đối với những người lãnh đạo, nếu muốn đem hạnh phúc thật sự đến cho dân và hợp lòng dân. Nhờ tinh thần ấy mà Lý Thánh Tông có thể nhìn hình ảnh con dân trong bản thân như đứa con yêu của mình và không thôi nghĩ đến họ đang đói rét, thiếu thốn nên liền chẩn cấp ngay cho họ. Trần Thái Tông biết gác lại nguyện vọng cá nhân, “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình…”, tiếp tục đảm đương và đã làm tròn trách nhiệm tổ quốc. Và rồi cũng chính Ông không ai khác hơn, có thể “lìa bỏ ngai vàng như trút bỏ chiếc giày rách…”. Trần Quốc Tuấn trãi lòng trung nghĩa thờ vua cứu nước, gạt bỏ thù riêng. Trần Bình Trọng khẳng khái quát vào quân thù: “Ta thà làm ma nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc”.Trần  Nhân Tông đốt bỏ hòm đựng thư hàng giặc của một số quan lại trong triều để niềm vui chiến thắng chung của mọi người được tron vẹn…và còn nhiều nữa những chứng nhân sống động cho một tinh thần vô ngã tuyệt vời.

3.3 CON NGƯỜI ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI

Tinh thần đóng góp của thiền phái Trúc Lâm, trở thành một trong những đặc trưng nổi bậc của Thiền tông Việt Nam khi nhìn nhận Nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà.Thiền phái Trúc Lâm đã nhập thế cùng dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Thực ra tinh thần nhập thế đã có từ thời Mâu Tử khi Đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời Trần với Thiền Trúc Lâm, thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ trong hai phương diện:

a) Con người đóng góp xã hội trong chiến tranh: Tiêu biểu cho những con người thời này đã có công đóng góp cho xã hội chính là vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo….Những vị vua chúa vương gia Phật tử này đã ứng dụng quan điểm nhập thế của nhà Phật, tùy lúc tùy thời, tùy theo yêu cầu từng giai đoạn của lịch sử giao phó mà tham gia đóng góp cho nước nhà. Đạo Phật nhập thế trở nên có thế nhập lớn trong lòng dân tộc.Nó trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối Thiền phái hoạt động từ đó và sau này:

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc,

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công”(hội thứ ba)[24].

Chính tư tưởng tu hành và giác ngộ ngay giữa trần tục, đã hình thành nên mẫu người Phật tử đem đạo ứng dụng vào đời. Chính Trần Thái Tông là người sống trong thế giới sặc mùi danh lợi, thế mà Ông vẫn giải thoát và lãnh đạo nhân dân ta thắng lợi cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất và cũng là người chủ trương đặt nền móng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời. Không chỉ Thái Tông mà một loạt thiền sư xuất gia, tại gia của giai đoạn này với tinh thần nhập thế của thiền phái, đều tích cực tham gia vào cuộc chiến chống ngoại xâm. Đặc biệt Trần Nhân Tông là nhà tư tưởng chiến lược, nhà cầm quân đại tài cùng toàn thể nhân dân ta ở thời Lý Trần, đã làm nên điều kỳ tích là lãnh đạo thành công các cuộc chiến tranh vệ quốc khi xác định “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ.Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn được cả thiên hạ phung sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt”[25]. Đó chính là những đóng góp to lớn của Phật giáo Thiền Trúc Lâm trong giai đoạn chiến tranh.

b) Con người đóng góp xây dựng xã hội trong thời bình:

Tinh thần nhập thế của Phật giáo thiền phái Trúc Lâm không chỉ dừng lại ở việc ra sức đánh đuổi quân xâm lăng , bảo vệ bờ cõi quê hương đất nước, mà còn góp phần xây dựng đất nước sau khi đã được tự chủ hoàn toàn. Quan điểm đoàn kết dân tộc chỉ thực hiện được khi  mọi người cùng chung một lý tưởng. Con người Đại Việt thời này đã làm nên điều đó.Trần Hưng Đạo đã viết  Hịch Tướng Sĩ để cụ thể hóa vấn đề đó với toàn bộ tướng tá binh sĩ của mình. Còn Trần Nhân Tông thì với chủ thuyết sống đúng đạo lý:

Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm,

Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

Tham thiền kén bạn,nát thân mình mới khá hồi ân,

Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo”[26].

Chủ thuyết này nhầm xây dựng, định hướng con người Phật tử bảo vệ độc lập và chấn hưng nước nhà.Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người này là điều kiện nhân tố cho quyền lợi người kia thì tất cả đồng phát triển. Từ đó mọi người dân hiểu, yêu nước là yêu đạo; yêu gia đình là yêu cha mẹ, bà con, yêu tình vợ chồng, con cái trẻ thơ; yêu mộ phần tổ tiên là yêu hồn thiêng sông nước.

Vì thế Thiền phái Trúc Lâm nhập thế tích cực hơn nữa. Sau thời bắc thuộc, Đại Việt không ngừng hoạch định chính sách phát tiển đất nước bằng cách mở rộng bờ cõi. Nhà Lý đã sát nhập ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính., cùng với việc thành lập thiền phái Thảo đường. Đến đời Trần yêu cầu phát triển kinh tế, phục hưng các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số trong thời bình trở nên vấn đề hàng đầu. Trước đó Trần Thánh Tông đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ dân nghèo các địa phương khai hoang, lập ấp nhầm đáp ứng việc gia tăng dân số mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi rất rõ :” Tháng 10 (1266) xuống chiếu cho vương hầu công chúa, phò mã cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang. Vương hầu có trang thực từ đấy”[27].

Sự phát triển của đất nước sau chiến tranh, khiến nhà Trần có chính sách lâu dài về vấn đề dân số, kéo theo vấn đề kinh tế an ninh, chính trị. Bốn năm sau Trần Nhân Tông tiếp tục sự nghiệp Nam tiến của cha mình là sát nhập hai  châu Ô Mã và Việt Lý (Bình Trị Thiên ngày nay) vào bản đồ đại Việt. Từ đây Đại Việt không chỉ giải quyết được vấn đề áp lực gia tăng dân số mà còn thiế lập được một nền an ninh vững mạnh. Về mặt lý luận, với Phật quan Bụt ở trong lòng(Hội thứ năm) tạo ra sự bình đẳng về con người giải thoát, bình đẳng về quyền lợi xã hội và khi đi vào quyền lợi thực tiển với tinh thần nhập thế, nó đã tác động mạnh mẽ trong công cuộc Nam tiến của dân tộc.Vào năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã cấm cột mốc phía Nam của tổ quốc trên núi đá Bia ở Phú Yên.Đến triều Nguyễn mở mang bờ cõi của dân tộc mới hoàn thành.

Hơn nữa công cuộc chấn hưng đất nước đòi hỏi phải thực hiện việc tái thiết các công trình văn hóa bị kẻ thù tàn phá. Dưới tác động của chủ trương xây dựng mẫu người Phật tử lý tưởng, người dân đã tích cực tái thiết. Điều này được Trần nhân Tông thể hiện rất rõ “Dựng cầu đò,giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu”(Hội thứ tám)[28].Việc Trần Nhân Tông đem mười điều thiện dạy khắp nơi, đã phản ánh chính sách dùng chánh pháp để an dân mà trước đó hơn một ngìn năm đã được ghi vào kinh Lục Độ Giác ngộ được Phật giáo nước ta vận dụng nhuần nhuyễn phù hợp với đạo lý truyền thống. Nó được các nhà lãnh đạo quốc gia dùng làm “pháp luật quốc gia” nhầm đem lại sự bình an cho xã hội với mục đích” rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài; đãi cát kén vàng, còn lại nhiều phen lựa lọc”(Hội thứ tám ).

Do đó Trần Thái Tông khuyến cáo nguời dân hãy tinh tấn rèn lòng làm Bụt như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ .  Có thể thực thi hành thiền bằng thoại đầu theo lối thiền sư nam Tuyên Bỗ Nguyện, hoặc theo cách Tử Hồ Lợi Tung đuổi chó …..vv :“Vương lão chém mèo, lạt trẫy lòng ngựa thủ tọa;

Thầy Hồ khua cho, trỏ xem trí nhẹ con giàng “(Hồi thứ chín)”

Và còn nhiều phương thức khác nữa mà Trần Nhân Tông đã dành cả hồi thứ chín, để trình bày từ thời Sơ Tổ Đạt Ma gặp vua Lương Vũ Đế nhà Lương, cho đến thiền sư Linh Vân Chí Cẩn khi thấy hoa đào nỡ rộ mà giác ngộ. Vậy là thiền phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế đã góp phần giải quyết một loạt vấn đề đặt ra cho Phật giáo đại Việt, đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi của dân tộc. Sau thời Trần Nhân Tông, Phật giáo còn tích cực nhập thế với những nhiệm vụ mới mà lịch sử giao phó. Đó là đi tìm về giá trị ngôn ngữ của dân tộc- đề cao ý thức tự chủ trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của cha ông ta ngày xưa để chống lại văn hóa ngoại lai Hán tộc. Sự xuất hiện và tồn tại ngôn ngữ tiếng Việt qua việc sáng tác các tác phẩm bằng chữ Nôm là sự minh chứng cụ thể.

Qua những điều nêu trên cho thấy, Thiền phái Trúc Lâm đã khuyến khích dân chúng xây dựng an lành cho xã hội, lấy tinh thần sống tốt, sống đẹp để xây dựng cho thế giới an lành, lấy tinh thần tam giáo đồng nguyên để gắn kết khối đoàn kết dân tộc tạo nên những trang lịch sử hào hùng. Các vị vua Phật tử đời Trần chính là những tấm gương thiết thực nhất, minh chứng cho tính thực tiển của Phật giáo Thiền Tông thời Lý Trần trong việc dấn thân đóng góp xây dựng xã hội, xây dựng đất nước tự chủ độc lập. Các vị vua đã lăn xã vào cái chết để giành lấy sự sống cho dân tộc, bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Họ, những Thiền Sư, những nhà vua kiêm thiền sư, những nhà Phật học,nhà chiến lược, tướng cầm quân,nhà tri thức lớn,nhà thơ, nhà văn, thầy thuốc tùy theo sự phân công và khả năng ở thời Lý Trần chính là những chứng nhân hùng hồn nhất cho tư tưởng giải thoát, tu đạo, nhập thế của thiền tông Việt Nam lúc này.

  1. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT

Trong bối cảnh lịch sử dân tộc đã sang trang, hiện lên con người giác ngộ với những cảm nhận về cái đẹp. Cảm hứng nghệ thuật trong Khóa Hư Lục về thế giới con người thật đẹp đẽ, hoành tráng thiêng liêng, nhưng cũng đượm chất cô liêu, huyền ảo khắc sâu vào tận cõi lòng. Hình ảnh bốn núi được khắc họa bằng hình ảnh bốn mùa trong năm sinh động vô cùng. Thế giới sáng tạo được khai mở, làm tuôn chảy như những dòng suối thi ca, hóa thành bức tranh bốn mùa xuân hạ thu đông với một thẩm mỹ trác tuyệt.

Bằng chất liệu thiên nhiên, ngôn ngữ của một tâm hồn chứng ngộ, bài pháp Tứ diệu đế khô khan đã hóa thành bài văn diễm lệ với phương pháp “hình tượng” sống động thề hiện hình ảnh con người hữu tình.Thông qua sự miêu tả từng mùa, tâm trạng con người được thể hiện với bao sắc màu tương ứng. Con người dường như cảm nhận cái đẹp từ trong hiện hữu cuộc sống, với bốn mùa đổi thay. Đọc mấy câu miêu tả về mùa xuân, biểu tượng cho sinh trưởng, lòng ta như tràng trề một sức sống mới”Một trời sáng đẹp, xóm thôn liễu biết đào hồng; muôn dậm phong quang, chốn chốn oanh ca bướm múa”[29]. Giúp con người gần với thiên nhiên hơn với sự miêu tả cuộc sống đời thường ấy.

Nếu văn học Phật giáo đời Lý, khi đề cập đến hình ảnh con người, dù là con người vô ngã, vô úy vô ngôn…đi nữa, chỉ gợi chứ ít khi tả thì đến văn học Phật giáo đời Trần, nhất là Trần Thái Tông qua Khóa Hư Lục đã sử dụng bút pháp tả thực để mô tả con người từ hình thể bên ngoài đến nội tâm bên trong với bút pháp ẩn dụ hết sức thuần thục qua hình ảnh bốn núi trong Phổ Thuyết sắc sơn, Phổ thuyết tứ sơn….có lẽ ai cũng nhận ra dường như chính mình đã từng đối diện các vấn đề liên hệ đến con người giữa cái tốt và cái xấu, bản năng và hướng thiện, không còn đơn thuần, đơn tuyến theo một chiều tâm lý.

Xem ra con người trong thơ văn Trần Thái Tông không còn mang tính ước lệ, khuôn mẫu như thường gặp trong văn học trung đại. Khóa Hư Lục đã thổi vào một luồng sinh khí mới khi tạo ra những mẫu người như thế. Đó là con người có sự biến chuyển nội tâm đi từ những thái độ hành vi bất thiện đến sự thăng hoa. Chưa bao giờ, con người được mô tả một cách chi tiết, cụ thể và bằng bút pháp tả thực hết sức sinh động như là ơ Khóa Hư Lục:”Sinh là khồ,già là khổ, bệnh là khổ,chết là khổ, cái giàe không ưa mà phải hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trược giả hợp là khổ”.

Chẳng phải ngạc nhiên khi Trần Thái Tông viết lên những dòng văn chương như thế về thân. Con người theo đó cảm nhận sự vận hành trong không gian ảm sầu, thời gian như ngắn lại theo dòng tâm lý ngập tràn lo âu: “mây mịt mù khi mưa lệ chứa chan; trăng hiu hắc chốn gió sầu lay động. Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chày ngựa xéo trâu quần”. Ông khắc họa hình ảnh con người qua một thân mạng hãi hùng thế kia. Mục đích là tự thân thoát ra sự vận hành của “cái thân” để đến một cõi lòng tĩnh lặng, sống chia sẻ lòng mình với mọi người.

Vậy là lần đầu tiên trong lịch sử văn học Phật giáo nước nhà,Trần thái Tông lấy con người từ trong hiện thực cuộc sống làm đối tượng  khắc họa nên hình ảnh con người. Suy cho cùng Ông không chỉ muốn tái hiện mà còn sáng tạo ra con người đầy đủ, cụ thể và chi tiết.Nó được phản ánh và lý giải từ cuộc sống hiện thực theo cách riêng, không chỉ những nét tính cách được phô diễn mà cả vóc dáng trí tuệ cùng thế giới nội tâm được thể hiện muôn màu muôn vẻ.

Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được Trần Nhân Tông thể hiện hết sức linh hoạt:

Mình ngồi thành thị

                                    Nết dụng sơn lâm ”[30]

Đời là thành thị, đạo là sơn lâm. Người dù thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời thân tâm vẫn thanh tịnh, trong sạch như ở núi rừng vậy. Điểm quan trọng là Tác giả so sánh giữa núi rừng và thành thị đều giống nhau , chỉ cần giác ngộ là đủ.

Không chỉ dừng ở đó, những lời ca về Phật của Thượng Trung Thượng Sĩ trong văn học thời Lý Trần đã sử dụng nghệ thuật nghịch ngữ hết sức điêu luyện:

Vọng lên chẳng thực cũng chẳng hư

Gương nhận không tà cũng không chánh

Vẫn không tội vẫn không phúc”[31].

Như vậy, khi nghiên cứu nền văn học Phật giáo thời Lý Trần, ta thấy hầu như các tác phẩm thường sử dụng nghệ thuật ẩn dụ, thí dụ, biểu tượng , ước lệ, nghịch ngữ….Với ý tứ thâm trầm, lời thơ óng mượt, đọc lên nghe như phản phất một hương thơm kỳ diệu, thanh thoát vô cùng.Trong cảnh giới trời xanh, trăng chiếu , chúng ta thưởng thức cái đẹp đất trời, thiên nhiên như hòa điệu thế giới nội tâm con người. Từ cảnh vật đời thường , cái tỉnh lặng dường như đưa con người đi vào thế giới sâu lắng nhất. Phải chăng cái đẹp như thế mới để lại dấu tâm linh cho mỗi tâm hồn biết thưởng thức cái trinh nguyên cuộc đời. Từ đó xây dựng con người Đại Việt trở thành mẫu người lý tưởng, phục vụ đất nước, xây dựng tương lai tốt đẹp, gần gũi thiên nhiên, trên tinh thần Phật hóa xã hội, đem đến những gì tốt đẹp nhất cho con người.

 

    II.     KẾT LUẬN

Có thể nói Đạo Phật là ánh sáng của trí tuệ, là suối nguồn từ bi, làm tươi mát hồn người . Truyền thống tốt đẹp của người Đại Việt là ứng dụng đạo Phật vào cuộc sống đời thường. Cùngvới tư tưởng Phật tại tâm, con người Đại Việt đã tùy duyên mà hòa quang đồng trần , tùy tục vào đời để độ đời.Đơn cử về hình ảnh những người tiêu biểu của thời đại Lý Trần là vua Trần Nhân Tông. Vị vua này là một tổng hợp uyển chuyển, vừa là chiến sĩ, lại vừa là nghệ sĩ, triết gia, tu sĩ.Với đời, Ông đã hai lần lãnh đạo thành công quân dân ta đánh thắng quân Nguyên Mông giữ yên bờ cõi, củng cố nền hòa bình. Với nhân dân, Ông thực hiện tinh thần đại đoàn kết giữa triều đình và dân chúng, mở rộng chính sách thân dân. Với đạo, Ông là người có công đầu xây dựng một giáo hồi mới, sáng lập một phái thiền hoàn toàn mang bản sắc Việt Nam. Mặc dù tuổi đang độ sung sức, 41 tuổi, và đạt đến đỉnh cao nhất của vinh quang sau khi đại thắng quân Nguyên Mông, nhưng Ông vẫn từ bỏ ngai vàng, xuất gia tu đạo trên núi Yên tử .

Qua đó, rõ ràng ta thấy Phật giáo đã có sự ảnh hưởng nhất định, góp phần tạo nên những đặc trưng nổi bật trong con người Đại Việt.Đó là con người vừa biết kiểm soát thân tâm, phát triển tận cùng khả năng giác ngộ hoàn toàn, lại vừa không ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, hết mình phục vụ cho nhân sinh dân tộc.. Phật giáo là gi? Chính là đi tìm chân lý. Chân lý thì không nằm trong Phật giáo mà nằm trong cuộc sống. Từ đây, chúng ta không ngạc nhiên gì khi Trần Thánh Tông xây dựng chủ thuyết “ở đời vui đạo tùy duyên” để làm tôn chỉ hoạt động thiền phái thông qua bài phú “Cư Trần Lạc Đạo”. Tư tưởng ở đời mà vui với đạo càng làm sáng tỏ tinh thần tùy duyên để con người an trú với đạo mà cứu giúp đời.Cùng lúc phát triển nội tâm sao cho đạt đến đỉnh cao tuyệt đối chân thiện mỹ. Thành tựu được sự giác ngộ hoàn toàn. Ngoại cảnh thì tùy duyên hóa độ nhân sinh, góp phần xây dựng xã hội mẫu mực, tạo nên những con người chuẩn, có ích cho nước, có lợi cho nhà, mà mọi thế hệ hằng ca ngợi. Điều đó khẳng định, lời nhận định của Mạn Đà La về đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt trong bài viết ”Vài Nét Tìm Hiểu Về Trần Nhân Tông,Vị Tổ Sáng Lập Dòng Thiền Trúc Lâm”như sau :”Một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn,mặt khác không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho cuộc sống,bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình” là hoàn toàn đúng. Ngay câu mở đầu hội thứ nhất của “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, sơ tổ đã cho biết phạm trù đời và đạo được xác định theo quan điểm mới mà các thiền phái Trung Hoa chưa từng đề cập”Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.Chỉ câu này thôi cũng đã đủ để thấy con người Đại Việt thời này đã tu đạo tùy duyên. Dù ở thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời, song họ biết sử lý với lòng trong sạch chẳng khác gì ở núi rừng. Đây chính là quan điểm “chẳng phải đại ẩn, tiểu ẩn, không phân biệt tại gia , xuất gia” như Trần Thái Tông đề xuất trong Thiền tông chỉ nam tự. Xưa nay mọi người điều biết đại ẩn chính là sống ở thành thị nhộn nhịp mà giữ lòng trong sáng, còn tiểu ẩn là sống ở núi rừng để trao dổi bản thân đến chổ hoàn thiện. Người Phật tử Đại Việt thời Trần chỉ tùy duyên, tùy thuận vào mối liên hệ phân công của xã hội theo khả năng của mình mà thể hiện đời sống đạo bằng cách:

“Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng kim cương;

Dừng dết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác)(Hội thứ hai)

Thế nên trãi qua một quá trình nghiên cứu, học hỏi văn học Phật giáo thời Lý Trần thông qua ba tác phẩm “Khóa Hư Lục” của Trần Thái Tông, “ Cư Trần Lạc Đạo” của Trần Nhân Tông, “ Phật Tâm Ca”của Tuệ Trung Thượng sĩ ta thấy quả thật không sai những gì Hồ Dzhếnh nhận xét:

“Trang sử Việt cũng là trang sử Phật”

Như vậy, để gút lại bài viết của mình, người viết xin mượn lời của Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, để khẳng định lại một lần nữa giá trị của Phật giáo trong dòng sử Việt : ”Lịch sử đã ghi chép những hình ảnh sự kiện và tư tưởng của thời đại; đón tìm một tia sáng bất diệt cho tương lai.Mở từng trang sử ta thấy mỗi trang là một bài thơ hùng tráng, lẫm liệt…có sức mạnh làm lay động lòng người. Suốt dọc dài lịch sử cách nay thiên niên kỷ, Đạo Phật và dòng sử Việt đã chứng minh sự có mặt của mình trong cuộc sinh hoạt toàn diện của dân tộc, với mục đích chân hóa, thiện hóa mỹ hóa nếp sống Việt Nam.Nhìn lại quá trình hơn một ngàn năm xã hội Việt Nam chìm đắm dưới sự thống trị của người phương Bắc thì,quả là mối duyên kỳ ngộ, Đạo Phật truyền vào nước ta mở ra người Việt một lối thoát bằng ánh sáng của đạo lý giác ngộ giải thoát và tự chủ; để từ đó, tạo điều kiện nhân duyên cùng với lối sống của người Việt hình thành một nền Văn Hóa Dân Tộc Việt Sáng Đẹp. Mà bản chất của nền văn hóa Việt- Phật ấy được thể hiện rõ nét nhất qua hai triêù đại văn minh Lý Trần. Đạo Phật đã có cống hiến thực tế to lớn đối với tổ quốc Việt Nam, trong sự nghiệp dựng hước giữ nước, đánh giặc phương Bắc, dẹp loạn phương Nam, bảo toàn lảnh thổ và chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XIV, cũng như đã và đang là sứ mệnh “giải cứu sinh dân”đối với những quốc gia Phật giáo và toàn thế giới nhân loại. Đạo Phật vào Việt Nam bằng cửa ngỏ hòa bình như vào nhà mình, không giống các đạo lý và ý hệ khác đến Việt Nam bằng cách phô trương ầm ỉ, sắt thép…Đạo Phật “sở dĩ” được toàn dân Việt nồng nhiệt đón nhận là vì tín chỉ giáo lý đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ ở đâu, hạng người nào, khi con người biết hướng về chân lý mà đạo Phật là chân lý .Đạo Phật đã gây được “ dân phong quốc tục đẹp” nên, từ thưở xa xưa tổ tiên ta đã Sống….và truyền đến cho con cháu ngày nay-dù lớp con cháu có hiểu hay không hiểu gì về nguồn giáo lý cao đẹp đạo Phật; những trong tiềm thức họ (không nhiều thì ít) đều có mang trong mình dòng máu “ tín ngưỡng đạo Phật”-nên mọi ý tưởng, ngôn từ, hành động họ, nhưng họ đã sống thực và thể hiện đúng tinh thần của“đạo“ hộ tinh theo hay nói cách khác.  Đạo Phật Việc Nam  cũng chính là quần  chúng nhân dân Việt Nam”[32].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. “Cư Trần Lạc Đạo Phú”-“Khóa Hư Lục”-“Phật Tâm Ca”-Tạp Chí Văn Học, ĐH KHXHVNV-Trần Lý Trai
  2. Lịch sử Phật giáo Việt Nam-Lê Mạnh Thát-NXB Thuận Hóa,2001
  3. Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 1-Nguyễn Lang – NXB VH, Hà Nội,2000
  4. Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ x đến thế kỷ thứ xx-Nguyễn Phạm Hùng-NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, 2001
  5. Nhiều tác giả1997.Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam.Hà Nội
  6. Viện văn học.Thơ văn Lý Trần, tập2, quyển thượng. Hà Nội: KHXH
  7. Văn học phương Tây giản yếu-Minh chính-NXB ĐH QG TP.HCM, 2002
  8. Thơ Thiền Việt Nam-Thích Phước Sơn—Tri Liên_NXB TP. HCM, 2002
  9. Khảo Sát Đặc Trưng Nghệ Thuật Của Thơ Thiền Việt Nam Thế Kỷ X đến thế kỷ XIV- Đoàn Thị Thu Vân-TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC VÀ NXB VĂN HỌC HÀ NỘI, 1996
  10. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2,Viện KHXHNV, NXB Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1998,
  11. Đạo Phật Và Dòng Sử Việt-Phật Học Viện Quốc Tế California, Hoa Kỳ ấn hành, 1998
  12. Chân Dung Con Người Trong Thơ Thiền Lý Trần-Quảng Thảo-NXB TÔN GIÁO

đề tài:

Khi nhận định về hình ảnh con người Đại Việt, Mạn Đà La đã viết trong bài “Vài Nét Tìm Hiểu Về Trần Nhân Tông,Vị Tổ Sáng Lập Dòng Thiền Trúc Lâm” như sau :

”Một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn,mặt khác không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho cuộc sống,bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình”.

Thông qua tác phẩm “ Khóa Hư Lục” của Trần Thái Tông, “ Cư Trần Lạc Đạo” của Trần Nhân Tông, “ Phật Tâm Ca” của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Hãy trình bày những đặc trưng hình ảnh con người đại việt trong thời đại Lý Trần

[1] Lịch sử Phật giáo Việt Nam-Lê Mạnh Thát-NXB Thuận Hóa,2001

[2] Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 1-Nguyễn Lang – NXB VH, Hà Nội,2000

[3] Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ x đến thế kỷ thứ xx-Nguyễn Phạm Hùng-NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, 2001

[4] Nhiều tác giả1997.Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam.Hà Nội: Giáo dục, Hà Nội tr.3

[5] Viện văn học.Thơ văn Lý Trần, tập2, quyển thượng. Hà Nội: KHXH, tr 681

[6] Viện văn học,sđd, tr 512

[7] Viện văn học, sđd, tr 271

[8] Viện văn học, sđd, tr 265

[9] Viện văn học, sđd, tr 295

[10] Viện văn học, sđd, tr 27

[11] Viện văn học, sđd, tr 107

[12] Viện văn học, sách đã dẫn  tr 42

[13] Viện văn học , sách đã dẫn, tr 127

[14]Viện văn học, sách đã dẫn , tr 128

 

[15]Viên văn học, sđd,tr 27

[16] Viện văn học, sdd, tr 84

[17] Văn học phương Tây giản yếu-Minh chính-NXB ĐH QG TP.HCM,2002

[18] Thơ Thiền Việt Nam-Thích Phước Sơn—Tri Liên_NXB TP.HCM,2002

[19] Khảo Sát Đặc Trưng Nghệ Thuật Của Thơ Thiền Việt Nam Thế Kỷ x đến thế kỷ xiv- Đoàn Thị Thu Vân-TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC VÀ NXB VĂN HỌC HÀ NỘI, 1996

[20]Viện văn học, sách đã dẫn, tr 506

[21]  Văn học phương Tây giản yếu-Minh chính-NXB ĐH QG TP.HCM,2002

 

[22] Viện văn học, sách đã dẫn, tr 139

[23] Viện văn học, sách đã dẫn, tr 54

[24] Viện văn học, sđd, tr 506

[25] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2,Viện KHXHNV, NXB Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr37

[26] Viện văn học, sách đã dẫn, tr 507

[27] Viện văn học, sách đã dẫn, tr36

[28]Viện văn học, sách đã dẫn ,tr 508

[29]Viện văn học, sdd, tr 45

[30] Cư Trần Lạc Đạo Phú – hội thứ nhất

[31] Phật Tâm Ca

[32] Đạo Phật Và Dòng Sử Việt-Phật Học Viện Quốc Tế California, Hoa Kỳ ấn hành, 1998

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s