LUẬN VĂN PHẬT GIÁO

  1. DẪN NHẬP

Như chúng ta đã biết, đạo Phật xuất hiện trên cuộc đời đã trải qua hơn 25 thế kỷ, một chuổi thời gian không phải là dài cũng không phải là ngắn, vượt bao thăng trầm biến đổi của lịch sử, nhưng đạo Phật vẫn không bị phai mờ bởi không gian và thời gian. Điều đó chứng tỏ rằng: đạo Phật không phải ngổng nhiên mà tồn tại lâu đến thế, mà đạo Phật luôn song hành cùng dân tộc là đạo của sự sống, là đạo của con người, là đạo của thân hành, khẩu hành và ý hành trong chánh niệm đạo đức. Đạo Phật đi vào đời nhằm hướng dẫn con người cuộc sống thực nghiệm không phải mơ hồ, thây vào đó là con người ý thức rỏ ràng từng hành động của mình có khả năng đưa đến nết sống thánh thiện đạo đức. Chính vì thế, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ chủng tánh của mỗi chúng sanh mà đưa ra nhiều pháp môn, nhiều phương tiện để con người dễ dàng tu tập một cách thiết thực hơn. Đó là tâm hạnh và lòng thương bao la vô bờ bến của Bồ Tát đi vào đời cứu khổ ban vui cho nhân loại. Phật giáo đến với cuộc đời, đầy đủ trong mọi phương diện phục vụ cho mọi đối tượng và đặc biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự mình hoàn thiện đạo đức cá nhân mà vẫn không tách rời khỏi cuộc sống hiện tại. Cho nên khi chúng ta nói đến đạo đức Phật giáo là nói đến sự thây đổi tư duy nhận thức của mỗi cá nhân, từ đó con người có cách sống hạnh phúc hơn, an lạc hơn. Vì thế tôi nhận thấy tầm quan trọng của đạo Phật bất ly thế gian giác này nên chọn cho mình đề tài “Lòng từ và phương tiện quyền xảo trong đạo đức Phật giáo phát triển” để làm nhan đề tiểu luận. Tuy nhiên với nhan đề này rất rộng và sau xa nên tôi chỉ triển khai những ý chính xoay quanh về lòng từ và phương tiện quyền xảo trong đạo đức Phật giáo phát triển mà thôi. Trong bài này tôi dùng cách phân tích, tổng hợp, chứng minh, lập luận và những gì thu thập tại lớp để làm sáng tỏ mạnh đề nêu trên. Qua đây, người viết cũng không mong ước gì cao xa, mà chỉ hy vọng đóng góp thêm một tiếng nói nhỏ như một hạt cát giữa sa mạc mênh mông vào tiếng nói chung của xã hội loài người đang mong đợi. Với vốn kiến thức còn nông cạn không đủ để lột tả hết nội dung của đề tài, văn phạm, hình thức lẩn nội dung không suông nên kính mong chư thiện hữu tri thức và giảng viên bộ môn hoan hỷ chỉ cho những khuyết điểm để bài tiểu luận lần sau tôi làm hoàn chỉnh hơn, tốt đẹp hơn.

  1. NỘI DUNG
  2. Khái niệm về đạo đức
    • Định nghĩa

Khi chúng ta đề cập đến đạo đức thì một điều rất khó để nói hết đạo đức là gì. Tại sao vậy? tại vì đạo đức mà nói được thì không phải là đạo đức. Nhưng ở đây chúng ta có thể đưa ra những quan niệm đạo đức cơ bản, tương đối chuẩn xát để chúng ta nhìn nhận một cách chuẩn mực hơn. Qua đây chúng ta có một khái niệm chung về “đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc, một đời sống hạnh phúc là một đời sống đạo đức, đời sống đề cao con người đưa con người vào vị trí tối thượng, xác định con người có khả năng sống một đời sống hướng thượng”[1] vậy.

Theo như Sư Cô Huyền Tâm định nghĩa thì “đạo đức là những môn học nghiên cứu bản chất tổng quát về đạo đức và sự lựa chọn có tính đạo đức cụ thể, được hành động bởi một người”[2]. Cho nên một người biết chọn lựa một hành động thiện có tính đạo đức thì con người đó có khả năng thân hành, khẩu hành và ý hành đúng. Còn ngược lại, nếu con người đó mà thân, khẩu và ý hành bất thiện thì dẫn đến hành động không tốt. Vì thế khi chúng ta làm một việc gì, trước tiên ta phải suy nghĩ cho kỷ xem việc làm đó có lợi cho mình và cho mọi người hay không, “phàm làm một việc gì đều nghĩ đến hậu quả của nó” nếu lợi thì ta làm. Đó là một hành động mang tính đạo đức rất cao.

Theo Hòa Thượng Thích Minh Châu thì “đạo đức Phật giáo là nết sống đưa đến hạnh phúc và an lạc ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là nết sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động và nết sống ấy phải đem ra hành trì thực hiện, không phải để lễ bái cầu xin”[3]. Đây cũng là vấn đề then chốt, nếu chúng ta muốn có đời sống hạnh phúc, an lạc, niết bàn ngay tại thế gian này thì chúng ta phải làm chủ từng cử chỉ, hành vi, lời nói…của chính bản thân mình, ngay tại đây giây phút này mà không cần ai ban phước hay giáng họa cho ta. Cho nên chúng ta không cần phải cầu xin là vậy. Đó là một thái độ sống tích cực.

Theo từ điển Tiếng Việt thì “đạo đức là những phép tắc căn cứ vào chế độ chính trị mà đặc ra để quy định quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội cốt để bảo vệ chế độ kinh tế và chế độ xã hội”[4]. Một xã hội tốt đẹp hay không thì trong mỗi con người phải biết tôn trọng, biết thương yêu và đùm bọc lẫn nhau thì con người, xã hội đó tốt đẹp, có được nết sống chuẩn mực đạo đức được quy định.

Nói chung đạo đức là một danh từ có nghĩa rất rộng. Ý nghĩa đặc biệt của danh từ này không đơn giản là ngữ nghĩa mà hàm nghĩa chỉ về một phạm trù mang đầy đủ tính cách, ngôn ngữ phẩm chất và cả đời sống của một con người. Nó vượt ra ngoài danh lợi, địa vị và giai cấp.

  • Giá trị đạo đức theo quan điểm Phật giáo

Đức Phật ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn Độ khắc nghiệt, phân biệt giai cấp, kì thị của con người phong kiến…chính vì thấy sự thống khổ đó nên ngài tìm ra con đường giải thoát khổ đau. Vì thế sau khi chứng quả và thành lập Tăng đoàn Ngài nói rằng: “này các Tỳ Kheo hãy ra đi vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích an lạc hạnh phúc của chư thiên và loài người”[5]. Đức Phật khuyên các Tỳ Kheo hãy đi vào đời để đem giáo lý mà mình chứng ngộ được để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, đây là tâm nguyện vô ngã vi tha của bậc đại trượng phu, những lời dạy của Ngài đày tình thương bao la vô bờ bến, đầy tính nhân bản đạo đức thể hiện qua đức tánh và sự liên hệ qua những lời dạy vô cùng thiết thực với tâm nguyện giáo hóa độ sanh của Ngài. Cho nên khi chúng ta nói đến đạo đức Phật giáo là lối sống trong sạch tránh xa những tham sân si, chấp thủ của con người. Con người biết áp dụng những lời dạy của Ngài thì không còn tham ái, si mê bởi những dục vọng cá nhân nữa thây vào đó đời sống hướng thượng. Đạo đức Phật giáo đề cao một nếp sống giải thoát những bám víu của thế gian, hoàn thiện một nhân cách sống hoàn toàn mới mà vẫn không xa rời thực tế. Đạo đức Phật giáo là một nếp sống hài hòa với muôn loài, không tranh đấu tạo sự chia lìa hay ly gián nên Ngài nói: “Này các Tỳ Kheo, ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta. Này các Tỳ Kheo, người nói pháp không tranh chấp với bất cứ một ai ở đời”[6]. Đạo đức Phật giáo là từ tâm xả bỏ vô biên, tấm lòng mình rộng mở không oán thù, không hiềm khích thì mới thấy an lạc thật sự. Đây là một điểm đặc biệt của Phật giáo áp dụng được cho mọi thời đại. Những tánh tham lam ích kỷ thì thế giới tiếng súng sẽ im và mọi người nhận ra nhau bằng tình thương chân thật. Với một con người đạo đức là gia đình hạnh phúc, gia đình hạnh phúc thì xã hội hạnh phúc, thể hiện đời sống đạo đức ngay trong mỗi con người, cho nên con người sống không còn thù hận thì lo gì không an lạc, hạnh phúc. Điều này đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú rằng: “Với hận diệt hận thù, Đời này không có được, Không hận diệt hận thù, Là định luật thiên thu”[7]. Con người đâu khổ là do tạo nghiệp ác bởi tham sân si vọng động, khi chúng ta biết quay về sám hối thì tam nghiệp thanh tịnh, từ đó tâm của chúng ta an lạc và hạnh phúc ngay trong cuộc đời này và mãi về sau. Đạo đức Phật giáo qua các lời dạy của Ngài tựu trung vẫn để khẳng định giá trị của một con người đặt con người vào đúng chổ. Trên cơ sở đó đạo đức Phật giáo giúp con người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những điều đưa đến bất lợi cho chính bản thân, gia đình và xã hội. Chỉ có giải thoát khổ đau mới chính là hạnh phúc chân thật sự.

  1. Lòng từ trong đạo Phật
    • Định nghĩa

Lòng từ hay từ bi là một thuật ngữ rất thường được sử dụng trong Kinh điển Phật giáo. Tiếng Pàli gọi là Mettà, tiếng Sankrit là Maitri. “Tâm từ hay lòng từ nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người bạn tốt, là lòng mong ước thành thật cho tất cả đều được sống an lành vui vẻ”[8]. Thương yêu chúng sanh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ, đồng cảm nỗi khổ và làm cho chúng sanh bớt khổ là Bi. Vậy “Từ Bi là tình thương rất chân thật không có hạn lượng, không phân biệt”[9].

  • Ý nghĩa về giá trị đạo đức của lòng từ

Từ nói cho đủ là từ bi là tình thương vượt ra ngoài những diễn tả của ngôn ngữ, sức sống tiềm tàn mãnh liệt trong mỗi con người. Lòng từ có nghĩa như tình thương cha mẹ dành cho con cái, Phật dành cho chúng sanh…Cho nên trong Kinh đức Phật dạy cho chúng ta rằng: “không làm các điều ác, thành tựu mọi hạnh lành, tâm ý giữ trong sạch, chính lời chư Phật dạy”[10]. Lòng từ Phật giáo bao trùm cả vạn hữu. Không phải là sự luyến ái riêng tư giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với con vật…Lòng từ Phật giáo bắt nguồn từ sự cảm thông chân thật, tha thiết trước nỗi khổ của mọi người. Hay nói một cách khác, không những không làm hại mà còn nâng niu từng sự sống, đem lại cho nhân loại những điều ích lợi. Nếu muốn thấu hiểu lòng từ, cảm nhận lòng từ thì ta hãy bỏ qua chủng tộc, tính cách, lãnh thổ giai cấp. Lòng từ không cho riêng bất kỳ ai mà cho tất cả chúng sanh vô tình lẫn hữu tình. Cho nên đức Phật lại dạy: “Loài được thấy không thấy, Loài sống xa, không xa, Các loài hiện đang sống, Các loài sẽ được sanh, Mong mọi loài chúng sanh, Sống hạnh phúc an lạc”[11] là vậy.

  • Áp dụng đạo đức lòng từ vào thực dụng cho cuộc sống

Con người là tác giả của khổ đau và cũng chính là nạn nhân của khổ đau, nhưng họ chưa dừng lại khi tình thương không có mặt, đổi lại đó là thù ghét, ganh tỵ. Rồi một khi họ nhận lại món quà không như ý, họ tặng cho người khác lại trở thành oán than. Từ bi Phật giáo dạy con người biết sống trải tình thương rộng ra, không tham lam ích kỷ, mà hãy sống bằng những hành động cụ thể có ích lợi cho chúng sanh, có như vậy chúng ta mới có đời sống hỷ xã và an lạc, cho nên đức Phật dạy rằng:“Mọi hành động gì có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho cả hai, bị người chỉ trích, nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem lại tâm khổ, tâm ưu. Hành động như vậy gọi là bất thiện và chúng ta loại bỏ hành động ấy. Hành động gì không có hại cho mình, không có hại cho người, không hại cho cả hai, được người trí tán thán. Nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem đến tâm lạc, tâm hỷ, hành động như vậy gọi là thiện vô chí ta phải thực hành”[12]. Triết lý hành động là tu tập và thực hành lòng từ ngay trong góc độ của cuộc sống đời thường, tâm linh và tất cả.

  1. Phương tiện quyền xảo trong đạo đức Phật giáo phát triển
    • Phương tiện quyền xảo trong Kinh Pháp Hoa

Khi chúng ta nói đến Kinh Pháp Hoa là nói đến nét đặc thù của giáo lý đại thừa mà đức Phật đã dùng nhiều phương pháp ẩn dụ, phương tiện quyền xảo nhằm mục đích khai mở tuệ giác trong mỗi con người chúng ta, khi chúng ta nhận chân được trong tâm vốn sẳn có viên minh châu sáng suốt tròn đầy ấy thì chúng ta không phải tìm kiếm một sự an lạc nào ngoài cái thế giới này. Mà ngay tại cõi đời này nếu con người tự thân thực hành những phương pháp mà đức Phật chỉ dạy trong suốt hơn hai ngàn năm thế kỷ qua mà không bị lạc hậu bởi thời gian và không gian. Cho nên Ngài nói rằng: “muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để đặng thanh tịnh mà hiện ra nơi đời, vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời, vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời, vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời”[13], hay Phật ra đời nhằm mục đích: “khai, thị, ngộ, nhập, Phật tri kiến”. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, hay tánh chơn như hằng hiện hữu trong mỗi chúng ta, nhưng vì chúng ta bị vô minh che lấp, làm mê mờ tâm khảm chúng ta, nên chúng ta ngộ nhận các pháp trên thế gian này là thật có, rồi không nhận ra, chấp chặc vào đó, để rồi khi hết duyên tan rả sanh tâm khổ đâu. Chính vì vậy nên đức Phật đã dùng nhiều phương tiện nhằm dẫn dắt chúng sanh từ bờ mê trở về bến giác. Ngài nói rằng: “từ ta thành Phật đến nay, các món nhơn duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp”[14], điều này chứng tỏ rằng: đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp rồi nhưng vì lợi ích an vui cho chúng sanh, nên Ngài dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhơn duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp.

Đức Phật đã thọ ký cho chúng ta đều sẽ thành Phật, cho nên Ngài biết rỏ tánh của các pháp là vô pháp bình đẳng, bất sinh bất diệt, không đến không đi, không có đầu mối hay gọi là vô tánh như trong Duy Thức có đề cập mà chỉ rỏ trí siêu suất của bát nhã mới ngộ nhập. Nên Ngài dạy rằng: “các Phật lưỡng túc tôn, biết pháp thường không tánh, giống Phật theo duyên sanh, cho nên nói nhất thừa, pháp đó trụ ngôi pháp, tướng thế gian thường còn, nơi đạo tràng biết rồi, đức Phật phương tiện nói”[15]. Cho nên các pháp là chơn không, vô tự tánh, sỡ dĩ nó có là do duyên sinh, nhờ đối đãi mà thành, khi lìa các duyên và các pháp đối đãi đó thì không có các pháp là vậy.

  • Phương tiện quyền xảo trong Kinh Duy Ma Cật

Trưởng giả Duy Ma Cật thì không xa lạ đối với chúng ta, đây là hiện thân của một vị Bồ Tát ở thành Tỳ-Da-Ly dùng hình ảnh tự thân mang bệnh của mình mà khiến hàng Tỳ Kheo, vương hầu, khanh tướng, trưởng lão, cư sĩ, Bà-la-môn v.v…đến để thăm bệnh. Nhưng đây ngài thuyết pháp về vô thường, khổ không, vô ngã của vũ trụ vạn pháp trên thế gian này. Ngài nói rằng: “Thân này là vô thường, không vẫn chải, không có sức mạnh, không bền chắc. Là vật mau hư hoại, không thể tin cậy được. Nó là cái khổ, là cái phiền lòng, là chổ chứa nhóm của các tật bệnh”[16]. Cho nên khi nghe tin Duy Ma bệnh thì ai cũng đến thăm nhưng đây Ngài lấy cái bệnh của thân mà rộng giảng nói pháp. Như thế trưởng giả Duy Ma Cật ứng hợp thuyết pháp với những người đến thăm bệnh ông, khiến cho vố trời người phát tâm vô thượng chánh đảng chánh giác. “này các nhân giả! Muốn được thân Phật, dứt tất cả bệnh chúng sanh thì phải phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác”[17]. Đây là một phương pháp mà Duy Ma Cật dùng phương tiện thiện xão giả thân mang bệnh để giáo hóa tha nhân. Tuy là người cư sĩ nhưng ông giữ gìn oai nghi tế hạnh, giữ giới trường trai, tuy sống giữa cuộc đời nhưng không ô nhiểm của cuộc đời. Điều này khiến chúng ta nghĩ rằng: không phải người xuất gia mới giải thoát mà người phật tử cũng có thể tu tập đạt quả vị giác ngộ. Cho nên đây là hình ảnh đặc sắc nhất trong hệ thống giáo lý của đức Phật, đức Phật đưc ra 84 ngàn pháp môn tu nhằm để đưa chúng sanh nhận chân được tri kiến Phật trong mỗi con người. Mà chúng sanh thì căn tánh không đồng, nên không có một hình thức hoá độ được ấn định bất biến dành cho tất cả mọi hạng người, không có một giáo pháp hay một pháp môn duy nhất dành cho tất cả. Bởi vì khổ đau của chúng sanh với muôn hình vạn trạng, Bồ tát đi vào đời với những phương tiện khác nhau để làm lợi ích chúng sanh, không chỉ bằng một phương thức duy nhất. Đó chính là hiện thân dùng phương tiện quyền sảo thể hiện một vị Bồ Tát với tâm hạnh thánh thiện đi vào đời để hóa độ chúng sanh là vậy.

  1. Tu tập lòng từ và áp dụng phương tiện quyền xảo vào cuộc sống
    • Nết sống đạo đức của người xuất gia

Thời Đức Phật còn tại thế. Ngài đã thân hành đem giáo lý từ bi bình đẳng ban bố cho chúng sanh suốt 49 năm. Bước chân của Ngài đã cùng khắp Ấn Độ. Từ những thôn xóm hẻo lánh đến đô thị sầm uất. Ngài nói lên tiếng nói yêu thương, khuyến hóa chúng sanh. Phật dạy: “Chánh pháp của ta là chánh pháp tự lợi và lợi tha. Ai có khả năng tiếp nhận sự hóa độ thì ta cũng tạo yếu tố hóa độ cho họ”[18]. Nên Ngài không quên khuyến hóa thánh chúng. Hãy vì tình thương chúng sanh mà du hành hóa độ. Đem  ánh sáng từ bi, trí tuệ ban bố cho chúng sanh. “Hãy ra đi, các Tỳ Kheo đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Hãy đem lại sự tốt đẹp lợi ích vì hạnh phúc cho chư  thiên và loài người” [19]. Lợi lạc chúng sanh ở quốc độ kham nhẫn này không gì hơn lòng từ bi đưa đến đạo đức sống. Vì thế truyền bá giáo lý từ bi là sứ mạng của người xuất gia. Để thực hiện thì Tỳ Kheo hộ trì và tu tập ngay bản thân mình, tìm một đường sống tốt đẹp, không gây đau khổ cho thế nhân. Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta. Này các Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với một ai ở đời”[20]. Hoàn cảnh sống không tranh chấp ấy, tâm hành giả sẽ được an tịnh, từ đó mới không phân biệt giáo hóa chúng sanh. Tiến xa hơn một bước, người xuất gia chọn tâm từ như một phương pháp thực tập an trú trong tất cả mọi hoàn cảnh và tâm từ như một sức sống làm an tịnh tâm thức hành giả, từ đó hướng về chúng sanh, hướng về cuộc đời bằng tất cả diệu dụng đạo đức của từ bi là vậy.

  • Nết sống đạo đức của Phật tử Phật tử

Lòng từ Phật dạy được tu tập không phân biệt đối đãi. Sở dĩ nói có xuất gia tại gia là do hoàn cảnh sống mà nói. Người tại gia quanh năm tảo tần với cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội. Bản chất cuộc đời thì tranh đua danh lợi, địa vị xã hội nên lòng từ ít có cơ hội thực tập hơn người xuất gia. Tâm chúng sinh luôn tranh đua và ganh tỵ thắng được thì vui mừng, thua thì thù oán. Đó là lý do mà người ta có thể thành thù oán bất hòa. Đôi khi dù đó là người thân của mình. Để tránh những thảm cảnh như vậy ta nên tha thứ và hoan hỉ theo lòng từ. Phật dạy: “Lấy không giận thắng giận, lấy thiện thắng không thiện, lấy trí thắng gian tham, lấy chân thắng hư ngụy”[21]. Với tính chất như vậy, đời sống Phật tử tại gia nếu lòng từ có mặt sẽ tạo lập được một cuộc sống an ổn và hạnh phúc trước mọi biến động của cuộc đời. Chúng sinh có quyền bình đẳng để sống. Cách thể hiện là luôn tôn trọng chứ không lấy mạnh thắng yếu mà phải bảo bọc bao dung. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”. Đó là một sự thật mà Ngài muốn dạy cho chúng ta, ta phải biết tôn trọng giác tính cũng như mạng sống của chúng sanh. Ngài dạy: “Mọi người sợ hình phạt, mọi người sợ tử vong, lấy mình làm thí dụ, không giết, không bảo giết”[22]. Hiểu được như vậy người luôn tôn trọng nhau trên mọi bình diện của cuộc sống. Đó là cách duy nhất người ta đến với nhau mà không làm tổn thương nhau. Sự tranh chấp và giận dữ luôn mang lại những kết quả không tốt, tạo sự nhẫn nhịn để cùng vui. Khỏi hại mình hại người đó là cách sẻ chia hay nhất trong cuộc sống. Ngoài ra Phật tử còn bố thí cúng dường, giúp đỡ những người nghèo khó…biết quy y tam bảo và luôn luôn tu tập theo phương pháp hành thiện tạo duyên lành với tam bảo. Từ đó Phật tử mới có cuộc sống an vui trong hiện đời và mãi mãi về sau.

  1. KẾT LUẬN

Như vậy khi nói đến đạo đức thì bao giờ cũng đặc vị trí con người lên hàng đầu, vì con người là loài động vật tối cao, là loài hữu tình và có tư duy nhận thức trên mọi phương diện. Cho nên những nguyên tắc đạo đức được đưa ra nhằm mục đích khích lệ con người không ngừng phấn đấu để hoàn thiện con người một cách triệt để. Đạo đức không phải pháp luật được quy định trong các hiến pháp, mà đạo đức ở đây thể hiện một con người biết sống hướng thượng, diệt trừ tham sân si phiền não không còn cấu uế. Đạo đức Phật giáo như viên minh châu sáng nếu trong mỗi chúng ta biết tu tập quay về chính bản thân, có như vậy con người không chấp thủ, chấp ngã…thì dứt khoát không làm nô lệ cho dục vọng cá nhân. Khi dục vọng không còn chổ dựa thì không còn dáy khởi và gây tai họa, con người tự làm chủ bản thân mình, sống đời sống vô ngã vị tha, không tranh chấp, con người đó có khả năng chứng ngộ và giải thoát đạt được an lạc hạnh phúc.

Ngày nay khoa học phát triển thì đạo đức con người bị xáo trộn, tha hóa, con người tự đánh mất những giá trị đạo đức nhân phẩm ngay chính bản thân mình. Chính vì thế với trí tuệ siêu việt của đức Phật ngài đưa ra những pháp môn, phương tiện để chúng ta dễ dàng tu tập, từ đó con người khắc phục kiềm chế bản thân mình và trở về với chân tâm thanh tịnh trong mỗi con người chúng ta. Với tri kiến hoàn hão như vậy, đức Phật đã thấu triệt tiến trình tâm lý của chúng sanh dễ hướng theo những tật xấu khó phát huy những đức tánh tốt nên ngài đưa ra những lời dạy vô cùng thiết thực để cho chúng ta dễ dàng tu tập hoàn thiện nhân cách đạo đức. Lòng từ trong mỗi chúng ta ai cũng có nhưng do chúng ta chấp thủ nên tự ích kỷ cho mình và cho mọi loài. Ích kỷ khiến chúng ta keo kiệt bỏn xẻn không chia sớt cho người nghèo khó làm tâm chúng ta nhỏ đi, hẹp hòi đi. Cho nên khi chúng ta biết áp dụng những lời dạy của đức Phật thì tâm chúng ta được an lạc ngay trong hiện đời này. Cho nên việc phát huy đạo đức Phật giáo là góp phần ngăn chặn những tệ nạn xã hội và suy đồi đạo đức. Đây chính là thước đo nhân phẩm cũng là điều kiện cơ bản của hạnh phúc con người.

Trong Phật giáo láy lòng từ bi và bình đẳng không phân biệt mọi loài, luôn luôn đề cao sự sống của mọi chúng sanh. Phật giáo có mục đích là cứu khổ ban vui nên đạo đức Phật giáo láy con người làm căn bản để nêu lên các phương thức giải thoát. Cho nên dù xuất gia hay tại gia đều phải tự thân mình có đời sống đạo đức được thể hiện qua những hành động cụ thể. Mong sao trong mỗi chúng ta ai cũng biết áp dụng lòng tử và phương tiện quyền xảo để thể hiện một đời sống đạo đức.

[1] HT. Thích Minh Châu, Đạo đức học Phật giáo, Viện nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1995, Tr 17.

[2] Sư Cô TS. TN Huyền Tâm, Bài giảng tại HVPGVN tại Tp HCM, Khoa Hoằng Pháp Khóa IX

[3]HT. Thích Minh Châu, Đạo đức học Phật giáo, Viện nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1995, Tr 19.

[4] Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1997, 270.

[5] Thích Minh Châu, Kinh Tương ưng, VNCPHVN, 1993, Tr 128.

[6] Thích Minh Châu, Tương Ưng Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN, 1996, Tr 165.

[7] Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1991, Tr 13.

[8]Phạm Kim Khánh, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1991, Tr 595.

[9]Phạm Kim Khánh, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh, 1991, Tr 563.

[10]Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam Cơ Sở II ấn hành, 1990, Tr 106.

[11]Tỳ Kheo. Thích Minh Châu, Tiểu Bộ Kinh Tập I,II, VNCPHVN, 1996, Tr 29,30.

[12]Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Trung Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN, 1996, Tr 265.

[13] HT. Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2007, Trang 66.

[14] HT. Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2007, Trang 53.

[15] HT. Thích Trí Tịnh, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2007, Trang 82.

[16] Chú giải Đại Sư Tăng Triệu, Việt dịch Hồng Đào, Kinh Duy Ma Cật chú giải, Thiện Tri Thức , 2007, Tr 56-57.

[17] Chú giải Đại Sư Tăng Triệu, Việt dịch Hồng Đào, Kinh Duy Ma Cật chú giải, Thiện Tri Thức , 2007, Tr 64.

[18]Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Tương Ưng Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN, 1996, Tr 273.

[19] Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Trường Bộ Kinh Tập I,II, VNCPHVN, 1996, Tr 126.

[20] Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Tương Ưng Bộ Kinh Tập I,II,III, VNCPHVN, 1996, Tr 165.

[21] Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, Tr 126.

[22] Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II ấn hành, 1990, Tr 78.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s