tieu luan: Vài ý kiến nhỏ cho việc hoằng pháp trong thời đại hiện nay

  1. DẪN NHẬP

Như chúng ta đã biết, hoằng pháp là nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả đối hàng đệ tử đức Phật và cũng là sứ mạng vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển của một tôn giáo thì đạo Phật chúng ta cũng không ngoại lệ vậy. Cho nên Phật giáo có phát triển lớn mạnh và bền vững lau dài hay không ấy là nhờ vào sự nổ lực nhiệt tâm, nhiệt huyết và nhiệt tình và bền chí của tất cả chúng ta. Tuy nhiên để việc hoằng pháp đạt đến kết quả như mong muốn thì đó là một điều mà tất cả chúng ta còn phải suy nghĩ. Nhưng muốn hoằng pháp đạt nhiều thành công, nhiều thành tựu tốt đẹp thì trong chúng ta phải có phương hướng cụ thể và có khoa học thì có như vậy hoằng pháp mới lợi lạc và phát triển một cách mạnh mẽ và lau dài. Cho nên hoằng pháp là con đường không phải dễ đối với tất cả chúng ta. Mà để duy trì nghành hoằng pháp này cũng không mấy dễ dàng, bởi vì xã hội càng ngày càng phát triển đời sống và dân trí của con người được nâng cao mà người sứ giả hoằng pháp thì sự hiểu biết còn hạn hẹp cả Phật học lẫn thế học mà nhất là thế học. Đó là điểm yếu của người hoằng pháp như chúng ta. Vì thế hoằng pháp là một thách thức lớn cho tất cả chúng ta. Chính vì thấy tầm quan trọng và cần thiết của đề tài nên người viết chọn cho mình “ Vài ý kiến nhỏ cho việc hoằng pháp trong thời đại hiện nay ” để làm tiêu đề cho bài tiểu luận cuối mùa của học kì sáu năm ba. Trong bài này người viết nhấn mạnh chuyên sau về người hoằng pháp là xuất gia làm đối tượng chính và nói như vậy không phải là người tại gia cư sĩ không hoằng pháp được, mà người xuất gia thì hoằng pháp thuận lợi hơn và đây cũng là xứ mạng phụng sự Phật pháp.

Tuy nhiên với kiến thức nông cạn mà mảng đề tài này thì rất lớn đòi hỏi người viết phải có kiến thức chuyên sau có như vậy mới làm sáng tỏ vấn đề. Trong bài này người viết dùng cách phân tích, lập luận, chứng minh, tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nêu trên. Với mong muốn đóng góp một cái gì đó làm cho đạo pháp, dân tộc, để qua đó phát huy khả năng và vai trò của xứ giả Như Lai trên con đường phụng sự “tác như lai xứ hành như lai sự” vậy.

  1. NỘI DUNG

Như chúng ta đã đề cập, sự phát triển của đạo Phật luôn là vấn đề mà bất cứ người đệ tử đức Phật nào cũng đều quan tâm. Hiển nhiên tất cả mọi người đều muốn Phật pháp được xương minh và phát triển một cách mạnh mẽ thế nhưng trên thực tế lại không như ý muốn. Cho nên mới nói rằng: không thể chỉ ước muốn suông mà cần phải biến ước muốn đó thành hiện thực, bằng những biện pháp cụ thể và thiết thực bằng con đường hoằng pháp đó là đưa Phật pháp vào thực dụng cuộc sống không còn trói buộc bởi lòng tham lam, sân hận, ích kỷ và si mê u ám, vì rằng đạo Phật là đến để thấy sự an lạc và giải thoát khổ đâu trong kiếp sống hiện tại và mãi mãi về sau chứ không phải đến để tin một cách mù quáng rồi thả hồn vào đó mơ mộng hão huyền, đó là thể hiện tính bao dung bao la vô bờ bến của tâm hạnh Bồ Tát và tha thứ của lòng từ bi, trí tuệ và giải thoát mọi ràng buộc ô trược trên thế gian này vậy. Nhưng muốn được như vậy thì đệ đử đức Phật phải thể hiện cụ thể qua đời sống mô phạm đạo đức, đời sống phạm hạnh. Cho nên “hữu tài vô đức bất khả dụng”. Như lời của Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh nói: “người tu phải có đạo tâm, đạo hạnh và đạo lực”. Cho nên đạo tâm rất quan trọng mà đạo tâm được xuất phát từ niềm tin đối với đạo từ việt sống hết lòng với đạo. Nếu được như vậy thì hoằng pháp sẽ phát triển lớn mạnh mà không chỉ phát triển ở Việt Nam chúng ta, các nước Châu Á, mà ngay cả các nước phương Tây. Vì từ bi, trí tuệ và giải thoát là ba yếu tố mà bất cứ ai, ở xã hội nào cũng cần, nhất là ở xã hội ngày nay, loài người có xu hướng phát triển theo chiều hướng đó. Bằng ngược lại nếu chúng ta cứ dùng những lời hoa mỹ ca ngợi sự vĩ đại cao siêu của đức Phật, tán dương sự giác ngộ giải thoát và lòng từ bi của Ngài cùng với sự đóng góp tích cực của đạo Phật trong quá khứ, hoặc truyền bá lời Phật dạy dưới hình thức mù mờ như là xem Phật như một bậc siêu nhân siêu nhiên trên trời rơi xuống, dưới đất vượt lên hay ban phước giáng họa…không thực tế đi vào cuộc sống khiến tín đồ hiểu một cách mơ hồ, mù quáng, thiếu sự phân tích giải thích, bên cạnh đó biểu hiện của đời sống chư Tăng lại đi ngược lại tinh thần giác ngộ giải thoát và từ bi của đức Phật, thì con người ở xã hội ngày nay khó chấp nhận và làm theo. Khi xã hội không chấp nhận thì sự tồn tại của chư Tăng sẽ gặp nhiều khó khăn về mặt sinh tồn và khó phát huy khả năng phương tiện hoằng pháp. Từ đó thành phần chư Tăng sẽ bị suy thoái, Phật pháp cũng sẽ theo đó hoại diệt, vì vai trò của người cư sĩ khó có thể thay thế cho chư Tăng giữ nhiệm vụ hoằng dương Phật pháp và duy trì đạo đức xã hội, trong khi đó chư Tăng là trụ cột của hoằng pháp.

Do vậy, muốn Phật pháp được tiếp tục duy trì và phát triển trong thời đại như hiện nay và mãi mãi về sau thì hàng đệ tử đức Phật cần phải có các tiêu chuẩn sau: kiến thức của thế gian, trí tuệ do công năng tu tập, thông hiểu giáo ly, nhu cầu thực tế của con người, phương thức hoằng pháp của Phật giáo có thể hiện đúng tinh thần của đức Phật và nhu cầu con người trong xã hội đang mong đợi hay không? Từ đó mới hoằng pháp và làm cho đạo Phật phát triển, hưng thịnh. Tuy nhiên ngoài những tiêu chuẩn này vẫn còn nhiều tiêu chuẩn hay phương pháp khác nhưng ở đây chỉ đưa ra những phương pháp chính mà nhu cầu thực tế trong thời đại ngày nay người hoằng pháp chúng ta cần phải có.

  1. Kiến thức của thế gian

Khi nói đến người có kiến thức là người có thể có một trí thức uyên bác về một vấn đề nào đó, có thể phân tích trình bày một vấn đề một cách mạch lạc và triệt để, nhưng người ấy là người chỉ biết chớ không có hành, người ấy đối với vấn đề ấy vẫn có thể bị chi phối, không được tự tại. Ví như một người có thể hiểu biết rất nhiều về vấn đề rượu, hiểu rượu gồm có những chất liệu gì, tác động của rượu đối với cơ thể như thế nào. Người ấy gọi là người có trí thức về rượu nhưng người ấy vẫn uống rượu, vẫn bị say rượu, vẫn bị rượu chi phối. Như vậy người ấy vẫn chưa có hiểu biết về rượu. Trái lại, một người hiểu rõ được rượu là gì, biết rõ được sự nguy hại của rượu, lại có khả năng không bị rượu chi phối, không uống rượu, không nghiện rượu, không say rượu, vượt ra khỏi sự chi phối của rượu. Đó mới gọi là có kiến thức về rượu. Cho nên tri thức là do chúng ta học hành và kinh nghiệm của thế gian mà có còn trí tuệ là do công phu tu tập thiền định mà phát sinh. Trí tuệ này có sức công phá và ngăn ngừa mọi ô trược, cấu uế của thế gian, không còn tham sân si, diệt tận vô ngã thẳng đến Niết Bàn. Từ đó chúng ta không còn bị đọa lạc trong lục đạo luân hồi, không bị chi phối bởi nội tâm và ngoại cảnh vậy. Cho nên kiến thức của thế gian chỉ đưa con người sự hiểu biết đến một chuẩn mực nhất định mà thôi còn trí tuệ của đạo Phật siêu việt vượt ra ngoài nhị nguyên không còn đối đãi và đưa con người đến an lạc giải thoát trong đời sống hiện tại, mãi về sau và như thế ai cũng biết rằng trong thời đại ngày nay khoa học, kỹ thuật, kinh tế, công nghệ thông tin…chiếm vị trí cao trong xã hội, nhu cầu thực tế cho thấy đòi hỏi con người phải có tri thức mới phát huy và đưa đất nước phát triển một cách mạnh mẽ thì trong Phật giáo chúng ta cũng vậy, nếu người hoằng pháp chỉ có kiến thức Phật học sâu sắc mà không thông hiểu kiến thức  thế gian vững vàng như các môn về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên… thì chúng ta khi đi vào hoằng pháp rất khó để thuyết phục quần chúng và giảng pháp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, vì sao vậy? “vì kiến thức của thế gian là tổng hợp tinh hoa của tri thức của con người đã phát triển theo trình độ văn minh tiến hóa, chúng ta sử dụng nó như một phương tiện  trong việc hoằng pháp và hơn thế nữa là tri thức nó bổ trợ vô cùng cần thiết cho người học Phật, có nó chúng ta mới học, đọc, hiểu và hành trì những lời dạy của đức Phật một cách dễ dàng[1]. Cho nên, đó là một vấn đề đáng để chúng ta cần phải lưu tâm vậy. Do vậy tri thức là sự hiểu biết thông thường của thế gian đưa đến sự hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, triết học, bác học, v.v…Mà đệ tử đức Phật được phép thông hiểu ngũ minh thì người hoằng pháp không ngần ngại gì khi học những môn này, đây là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện mà đức Phật đã dùng để tuyền đạt cũng như phương tiện cảm hóa chúng sanh, giúp họ mở mang kiến thức, phát huy nghề nghiệp, nâng cao cuộc sống hướng thượng. Như vậy theo như xu thế hiện nay chúng ta có thể áp dụng để cải thiện đời sống và nhu cầu mà đời sống xã hội hiện đại họ đã và đang cần. Do đó tri thức của thế gian pháp rất quan trọng cho người hoằng pháp như chúng ta.

Tóm lại: ngoài Phật pháp ra chúng ta còn phải thông suốt kiến thức thế gian có như vậy khi diễn tả không bị cục bộ, dễ có sức cuốn hút thính chúng hơn còn thuần hiểu giáo lý, kinh điển thì dễ rơi vào giáo điều, chủ quan. Do vậy “người tham lam mê muội yếu kém tri thức lẫn đạo đức mà muốn độ người giàu, người giỏi giống như người nấu cát muốn thành cơm[2]. Cho nên người hoằng pháp cần phải có kiến thức của thế gian vậy.

  1. Trí tuệ do công năng mình tu tập

Trí tuệ là một căn bản hay cơ sở hiểu biết tuyệt đối, trong sáng, tinh khiết và hoàn hảo, không bị hoen ố hay ô nhiễm bởi bất cứ một bóng dáng nào của dục vọng hay si mê. Cho nên trong Trung Bộ 1 đức Phật định nghĩa về trí tuệ như sau: “Như thế nào được gọi là Trí Tuệ? Vì có tuệ tri, vì có tuệ tri, nên được gọi là Trí Tuệ. CóTuệ tri gì? CóTuệ tri (Pajànàti): đây là khổ, cóTuệ tri: đây là khổ tập, có Tuệ tri: đây là khổ diệt, cóTuệ tri: đây là con đường đi đến khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri nên được gọi là Trí Tuệ”[3]. Như vậy trí tuệ là biết với tri tuệ, biết sự kiện, biết sự kiện tập khởi, biết sự kiện đoạn diệt, biết con đường đưa đến sự kiện đoạn diệt. Ngoài ra trí tuệ hay tuệ tri được nói hiểu thêm rằng: “Mở rộng thêm định nghĩa này là tuệ tri vị ngọt (assàda), tuệ tri sự nguy hiểm (àdinavà) và tuệ tri sự xuất ly (Nissarana) của các pháp, và do vậy nói chung có tất cả bảy lãnh vực cần phải tuệ tri, đối với một pháp, hay đối với bất cứ sự kiện nào, dầu tốt hay xấu cũng vậy. Như lấy dục làm đối tượng, thời phải tuệ tri dục, dục tập khởi, dục đoạn diệt, con đường đưa đến dục đoạn diệt, vị ngọt của dục, sự nguy hiểm của dục và sự xuất ly ra khỏi dục. Biết như vậy mới gọi là tuệ tri[4]. Như vậy trí tuệ có khả năng thắng tri, tức là biết với thiền định và thiền định đây là bất động thức tư. Lại có khả năng liễu tri với sự hiểu biết rốt ráo trọn vẹn và cuối cùng có khả năng đoạn tận được các lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, đoạn diệt được tham sân si, chấm dứt khổ đau.

Trí tuệ là do công năng mình hành trì và tu tập mà có, cái này không phải mình học nhiều hiểu rộng rồi cho rằng ta đây thông hiểu giáo lý một cách tường tận, không phải như vậy. Trí tuệ này chúng ta có được là đo công phu tu tập, thiền định mới đạt được, trí tuệ này có công năng đưa chúng sanh thoát sinh tử luân hồi. Trí tuệ này là trí sáng suốt thấu tường tận cội ngành của khổ đau. Trí tuệ này giúp hành giả chấm dứt mọi sự ràng buộc, triền phược của nội tâm và chấm dứt mọi thứ mà ngoại cảnh thâm nhập vào. Cho nên khi tu tập có trí tuệ thì phân biệt “đâu là chánh tà đâu là thiện ác, tịnh uế, lạc khổ, thắng liệt và đâu là con đường đưa đến chân hạnh phúc chân thật[5]. Đến đây, mọi công phu tu tập của hành giả đều phải hướng về sự thành tựu của trí tuệ. Quán chiếu đối tượng để hiểu rõ sự thật các pháp nhằm có cuộc sống chân hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người. Tại đây con người sẽ hiểu rõ sự thật về chính mình và vạn hữu các pháp để giải thoát mọi khổ đau ràng buộc con người. Chính đức Phật thường khuyến cáo hàng đệ tử của Ngài về tầm quan trọng tu tập thiền định:

Ai sống một trăm năm
Ác giới không thiền định
Không bằng sống một ngày
Trì giới tu thiền định
[6].

Do vậy con người có trí tuệ sẽ nhận ra tư duy hữu ngã trống rỗng, thế giới các ngã tướng là rỗng, mọi dục vọng được sanh khởi sẽ vắng mặt khi tư duy vô ngã xuất hiện. Từ đó con người chính nó, cũng như con người xã hội trở thành một thực thể thống nhất để giải thoát tất cả mọi ràng buộc khổ đau đè nặng lên thân phận con người được vận hành từ nguồn tuệ giác, tự thân xóa tan sự mê mờ, chấp thủ những dục vọng của cá nhân.

  1. Thông hiểu giáo lý

Đây là vấn đề then chốt mà chúng ta cần phải đạt được, do vậy “tu mà không học là tu mù, học mà không tu đó là cái đảy đựng sách”. Cho nên ai trong chúng ta cũng phải thông hiểu giáo lý một cách tường tận, nhưng để hiểu giáo lý một cách triệt để và sâu sắc thì khó cho mỗi chúng ta, vì sao vậy? như chúng ta đã biết, toàn bộ kinh sách được viết bằng chữ Hán mà chữ Hán thì chỉ có một bộ phận nhỏ là tu sĩ đọc và hiểu thôi, ngoài ra ít có người đọc và hiểu ở trong Kinh đó đức Phật dạy cái gì. Cho nên vấn đề mà chúng ta hiểu, thông suốt và am tường được Kinh điển Phật giáo đó là cả một vấn đề. Ngoài ra người hoằng pháp phải hiểu rõ ràng tầm quan trọng và phương diện lịch sử và tư tưởng Phật giáo từ khởi nguyên đến hiện tại, bởi vì “nếu khởi nguyên của các tôn giáo thế giới là những chủ đề có ý nghĩa và rất đáng được quan tâm và nghiên cứu thì sự phát triển và mở mang kiến thức của chúng ta cũng không kém phần quan trọng[7]. Cho nên đây là một vấn đề cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của đạo Phật, thông hiểu được văn hóa lịch sử của các quốc gia khác trên thế giới. Khi thông hiểu giáo lý như vậy thì những quan niệm chấp thủ, cục bộ…không còn nữa, từ đó chúng ta có sự nhìn nhận và qua đó chúng ta hoằng pháp dễ dàng hơn.

  1. Nhu cầu thực tế của con người

Chúng ta đang sống trong thời đại phát triển của khoa học, công nghệ, các phương tiện thông tin đại chúng phát triển một cách mạnh mẽ vương lên tầm cao mới nên con người cũng theo đó mà phát triển theo, chính vì điều này khiến chúng ta cần phải nỗ lực trau dồi kiến thức để chúng ta khi đi hoằng pháp không bị lạc hậu hay nói cách khác là không bị ngỡ ngàng bởi hiện đại hóa của xã hội. Cho nên khi đứng trước một nền văn minh vật chất của loài người đang ở đỉnh cao như vậy, thiết nghĩ rằng người hoằng pháp cần phải đáp ứng yêu cầu của thời đại, có như vậy chúng ta mới biết  rõ những gì mà mọi người suy nghĩ, bứt xúc…để từ đó chúng ta mới có phương pháp hữu ích giúp họ giải thoát khổ đau, đồng thời chúng ta đưa ra phương hướng sống lành mạnh để họ được an vui phát triển về vật chất lẫn tinh thần làm được như vậy thì chúng ta đã đáp ứng nhu cầu thật tế của xã hội hiện đại. Cho nên chúng ta cần phải khẳng định người hoằng pháp phải cập nhật hóa sự hiểu biết của mình theo sự diễn biến cuộc sống của con người trên thế gian này hay nói khác đi phải cập nhật thông tin trong thời đại chúng ta đang sống từ đó chúng ta lý giải những bế tắc của cuộc sống con người. Đó là những gì mà người hoằng pháp cần phải nên làm và như vậy mới thành công trên con đường hoằng pháp của mình. Hơn thế nữa Phật giáo chúng ta cần phải tùy theo thời thế và căn cơ của chúng sinh, lựa chọn nền giáo lý thích nghi và phương pháp làm việc hữu hiệu, để đưa đạo Phật vào cuộc sống của xã hội. Đó là một việc làm rất cụ thể cho ngành hoằng pháp vậy.

  1. Phương thức hoằng pháp

Khi nói đến hoằng pháp là chúng ta nói đến đối tượng hoằng pháp, có nghĩa là con người đó không phân biệt tu sĩ hay cư sĩ, tôn giáo hay không tôn giáo, người đó giàu sang địa vị chức tước hay không giàu sang địa vị chức tước…có như vậy chúng ta mới đưa con đường hoằng pháp tiến xa và nhân rộng Phật giáo đến quần chúng xã hội. Ngoài ra người hoằng pháp phải có tâm bao dung, rộng lượng, phạm hạnh và chuẩn mực đạo đức “Phật giáo không thể tồn tại nếu tu sĩ sống xa hoa lãng phí dựa vào tín đồ hay tệ hơn nữa làm cho họ kiệt quệ thêm”[8]. Và hơn thế nữa phải có tâm niệm quảng đại chúng sanh lấy ý muốn của chúng sanh làm ý muốn của mình có như vậy thì người hoằng pháp mới thực sự đi vào đời sống và thực hiện hạnh nguyện độ sanh vô ngã vị tha của mình.

Mà hoằng pháp là “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp” đó là kim chỉ nam, là tâm niệm, là hạnh nguyện của hàng đệ tử đức Phật, tuy nhiên ở trên thế gian này tùy theo theo thời đại, tùy theo quốc độ, tùy từng vùng miền, tùy theo từng gia đoạn phát triển văn minh của xã hội loài người mà áp dụng vấn đề hoằng pháp sao cho có sự uyển chuyển và có khoa học, không rập khuôn, phải luôn mới nhưng phải đúng chánh pháp mà đức Phật chỉ dạy hơn hai ngàn năm qua, có như vậy hoằng pháp mới có đạt hiệu quả cao và đáp ứng như cầu thực tế như hiện nay. Do vậy, chúng ta quay trở về thời đức Phật còn tại thế, trên bước đường du hóa Ngài đã đưa ra nhiều pháp môn thích nghi với hoàn cảnh, với từng trình độ và nghiệp lực của chúng sanh mà đức Phật giáo hóa. Đó là sự khôn khéo, biết uyển chuyển tư duy có khoa học, đó là nhu cầu thật tế không đi xa rời quần chúng. Cho nên chúng ta là người hoằng pháp thây đức Phật tuyên dương chánh pháp cần phải vạch ra đường hướng có logic có khoa học có như vậy mới thực hiện đúng chí nguyện của người tu theo giáo lý đức Phật. Do vậy, so với ngày nay không phải chúng ta hoằng pháp không có khoa học mà chúng ta chưa bố trí nhân lực để thích ứng chuyên ngành của mình, trong khi đó Giáo Hội đã đào tạo ra biết bao là đội ngũ giảng sư từ trung cho đến cao cấp từ đó đến nay trải qua biết bao nhiêu khóa đó là một điều đáng khích lệ và vui mừng nhưng trên thực tế và nhu cầu như hiện nay chúng ta thấy rằng đội ngũ giảng sư ấy đi đâu hết? đây là một câu hỏi khiến chúng ta cần phải lưu tâm vậy và phải chăng họ không được bố trí đúng chuyên môn của mình hay có vấn đề khác, đây là vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm. Nếu như đội ngũ giảng sư đó mà chúng ta bố trí và cử đi các đạo tràng để giảng dạy truyền bá chánh pháp thì thiết nghĩ rằng hoằng pháp trong tương lai sẽ phát triển lớn mạnh.

Hoằng pháp chưa định hướng được phương thức hoằng pháp sao cho có hiệu quả, hoằng pháp cho từng đối tượng, cho từng lứa tuổi, hoằng pháp phải có những biện pháp hay sân chơi lành mạnh để từ đó có sức cuốc hút quần chúng thanh thiếu niên mà thanh thiếu niên là lớp kế thừa mạng mạch Phật pháp, là nhân tố không thể thiếu cho sự phát triển đạo Phật mà điển hình như Chùa Hoằng Pháp đã tổ chức thành công những khóa tu mùa hè dành cho tuổi thanh thiếu niên và những khóa tu niệm Phật cho quý Phật tử.

  1. KẾT LUẬN

Như vậy, chúng ta ý thức được vai trò của hoằng pháp và ý thức sâu sắc con đường giáo hóa lợi ích thiết thực của đức Phật đã trải qua và nhận rõ thành công đó, chúng ta tự ý thức rằng: thể hiện sự kế thừa sự nghiệp của đức Phật và chư vị tổ sư, những người đã đi trước làm thềm thang cho thế hệ hôm nay chúng ta kế tiếp bước tiến trên con đường giáo hóa độ sanh.

Khi chúng ta gọi hoằng dương Phật pháp có nghĩa là chúng ta phải biết Phật pháp là gì và thế gian cần gì ở Phật pháp? hai vấn đề này được hiểu rõ thì công việc hoằng pháp mới có thể thực thi. Tri thức về Phật pháp và xã hội cũng không thể tự nhiên mà có, cũng không phải ở chùa lâu ngày mà có được, mà phải trải qua sự huấn luyện, tức là giáo dục. Vì vậy, Phật giáo cũng lấy việc giáo dục làm đòn bẩy cho việc tu tập và phát triển Phật pháp ở thế gian.

Tuy nhiên: hiệu quả của việc tu tập và sự thành công của việc hoằng pháp phần lớn tùy thuộc vào việc giáo dục có đúng hướng hay không?

Có thể nói rằng trong định hướng tương lai phương thức hoằng pháp truyền thống không thể thiếu trong sứ mạng truyền bá chánh pháp của đức Như Lai, vì nó đáp ứng nhu cầu của con người và những bức xúc thực tế của con người, phương thức có thể giúp con người giải quyết những mất mát trong cuộc sống là giảm đi nỗi đâu mà con ngươi đang gặp phải và qua đó chúng ta tạo một niềm tin vững chắc cho quần chúng để bước chân vào con đường học đạo của mình. Họ cần những giá trị thực tiễn mà giáo lý đạo Phật có thể giúp họ lấy lại sự quân bình giữa cuộc đời đầy bất an, cảm thấy sự an lạc nội tại ngay trong cuộc sống thường nhật của mình khi bước chân vào ngôi Chùa. Tuy nhiên cách truyền bá chánh pháp phải là sao có khoa học có logic có hiệu quả thì đó là vấn đề đáng để chúng ta lưu tâm. Người hoằng pháp làm sao phải biến ngôi Chùa trở thành chỗ dựa vững chắc khi họ cảm thấy mất niềm tin giữa cuộc sống đầy những chông gai thử thách và làm sao họ có cảm giác bình an khi bước chân vào Thiền môn.

Người hoằng pháp đi vào đời làm sao làm cho vơi đi những nỗi khổ và đem lại sự an lạc cho loài người, thể hiện được ý này thì hoằng pháp sẽ phát triển một cách mạnh mẽ. Thiết nghĩ Phật giáo chúng ta muốn phát triển trong giai đoạn kinh tế làm bá chủ thì cũng không thể không đáp ứng những yêu cầu của thời đại. Có thể khẳng định rằng chúng ta muốn mạnh thì phải giải quyết được đời sống của chính mình và còn thừa sức lực thừa của cải thừa tri thức để xây dựng cho tín đồ vượt trội hơn về vật chất lẫn tinh thần.

[1] HT. Thích Trí Quảng, Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì, Nxb Tổng Hợp Tp HCM, 2002, Tr. 13.

[2] HT Thích Trí Quảng, Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì, Nxb Tổng Hợp Tp HCM, 2002, Tr 225.

[3] HT. Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ I, Tr 43.

[4] HT. Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ I, Tr 43.

[5] HT. Thích Minh Châu, Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi, Nxb Tổng Hợp Tp HCM, 2012, Tr. 72.

[6] HT. Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam Cơ Sở II Ấn hành, 1990, Tr 68.

[7] TT Thích Viên Trí, Phật giáo qua lăng kính xã hội, Nxb Phương Đông, 2013, Tr 64.

[8] HT Thích Trí Quảng, Những Bài Giảng Về Hoằng Pháp Và Trụ Trì, Nxb Tổng Hợp Tp HCM, 2002, Tr 227.

Thich Đồng Quảng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s