tiêu luận: Điểm gặp gỡ về quan niệm khổ của triết học phương Tây và Phật giáo

 

  1. DẪN NHẬP

Sống trên cõi đời này, chúng ta hãy tự xét lại xem mình có bao giờ trọn hưởng thú vui mà không bị khổ chăng? Hơn nữa, thử quan sát những người xung quanh ta có ai vui nhiều, ít khổ? Chữ khổ phổ quát khắp thành phần sinh hoạt của con người. Khổ làm nền tảng hay cơ sở cho kinh nghiệm đau đớn, nhẫn chịu tác động từ hoàn cảnh bên ngoài hay nội tại bên trong. Do đó, rất xa xưa con người đã bắt đầu sống với những cuộc suy tìm chân lý, ước vọng đến chân trời hạnh phúc cao xa. Mỗi người với một quan niệm, có người cố nắm giữ những gì ngoài tầm với cho rằng đó là chân lý, có kẻ dùng các thú vui nhất thời để khỏa lắp thực trạng khổ đang tồn tại quanh ta…

Ngoài đạo Phật, có nhiều triết gia nhất là ở phương Tây, với tư tưởng lạc quan hay bi quan, họ cho rằng khổ bắt nguồn từ sự hiện hữu và tồn tại của con người, được biểu hiện một cách tự nhiên qua tinh thần và vật chất. Tư tưởng lạc quan phát triển thành chủ nghĩa duy vật, khoái lạc, phái bi quan thì có tính tôn giáo hơn, họ cố hành khổ hạnh ép xác để được hạnh phúc ở thiên đàng. Vậy, thế gian này không gì ngoài sự khổ chăng? Hạnh phúc, chung kết rồi cũng khổ đau, khổ đó có thể diệt được không?

Đức Phật, Ngài không là một triết gia vĩ đại nhưng trên cả triết gia, với sự chứng nghiệm bản thân Ngài dạy: “ Chúng ta nên nhận thức đau khổ là đau khổ, chấp nhận nó như thực kiến và chống lại nó…[1] và “ Này các Tỷ kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và  con đường diệt khổ”[2].

Để hiểu rõ tư tưởng của vài triết gia tiêu biểu phương Tây quan niệm về khổ như thế nào, tư tưởng của họ gặp gỡ với đạo Phật ra sao, đồng thời người viết cũng muốn làm nỗi bật nền triết học Phật giáo. Bằng phương pháp so sánh, giải thích và chứng minh trên cơ sở tham cứu các tài liệu sáng giá của những bậc tiền bối như: Tinh hoa triết học Phật giáo, JUNJIRO -TAKAKUSU, Tuệ Sỹ dịch, Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1972;  Kinh tạng Nykaya, Thích-Minh-Châu, NXB Tôn giáo 2000;  Tứ diệu đế, DATLAILATMA XIV,  NXB Tôn giáo, 1997…Người viết mạo muội chọn đề tài: “IMG_0197” và lần lượt trình bày qua 3 chương:

Chương I.   Định nghĩa

Chương I.   Các quan niệm chung về khổ

Chương III. Điểm gặp gỡ về quan niệm khổ của các triết gia phương Tây

và Phật giáo

  1. NỘI DUNG

 

  1. Định nghĩa:
  2. Khổ là gì ?

Trong tự điển Pali chữ Khổ (Dukkha) do hai từ“Du” và “kkha” kết hợp lại

Du :  nghĩa là khó, khổ

Kkha :  nghĩa là chịu đựng, kham nhẫn

Dukkha :  nghĩa là chúng sanh sống trong thế gian này kham chịu nhiều sự khó khăn, khổ sở, khổ là trạng thái tâm sinh lý, sự cảm thọ bất an, bất toại ý… Ngược lại “Dukkha” là chữ (Sukkha):  là dễ chịu, sung sướng.[3]

  1. Lý luận về Triết học

2.1.  Triết học là gì ?

Khi con người khổ đau, thì các cuộc suy tìm chân lý mở ra, họ giải thích bằng nhiều cách, bằng lý luận và quan sát thay vì thơ ca hay thần thoại…con người đã đi bước đầu tiên phát triển tư duy, triết học phục vụ đắc lực cho đời sống nhân loại về mặt tinh thần theo khuynh hướng khách quan. Triết lý hữu dụng, bởi vì nó làm phong phú thêm tri thức, thăng hoa đời sống tâm linh. Giáo sư F.Challay nhận định: “ Triết học là sự suy nghĩ về đời sống để giúp cho ta biết cách sống tốt” (La Philosophie est une rèlection sur la vie qui donne nous aider à bien vivre)[4]. Triết học càng không phải là ấn tín của thần linh mà nó là bến bờ cuả tri thức. Như luận điểm thứ nhất của Socrate: “ Con người là đối tượng duy nhất của triết học.”[5] Theo ngôn ngữ phương Tây dịch“ Triết học” nguyên từ chữ “Philosophia” là tiếng Hy-Lạp, có nghĩa là ái (yêu trí tuệ. Philo: tình yêu, sophia: trí tuệ). Định nghĩa triết học theo từ điển: Triết học là sự dùng lý trí và luận cứ trong sự tìm kiếm chân lý và tri thức về thực tại, đặc biệt là về nguyên nhân và bản chất của sự vật và về những nguyên lý thống trị sự sinh tồn, tri giác, hành vi của con người và thế giới vật chất. (Philosophia: the use of  reason and argument in the search for truth and the knowledge of reality, especially of the cause and nature of things, and of the principles governing existence, perception human behaviour, and the material universe.)[6]

2.2.   Đạo Phật có phải là triết học không ?

Triết học đại để quan tâm đến sự hiểu biết và không chú ý đến phần thực hành, nhưng Phật giáo thì ngược lại, thực hành mới chứng ngộ bằng trí tuệ trực giác, Đức Phật nói: “Hỡi các Tỷ kheo, ta đã truyền dạy một giáo lý tương tự như chiếc bè, nó cốt dùng để vượt qua sông, chứ không phải để ôm giữ lấy. Hỡi các Tỷ kheo, đã hiểu rằng giáo lý như chiếc bè, các ông cần phải lìa bỏ ngay, cả thiện pháp (Dhamma) huống nữa là phi pháp (Adhamma) các ông càng nên xả bỏ”[7]

Từ lời dạy của Đức Phật, ta thấy rõ giáo lý nhà Phật mục đích đưa con người đến bến bờ giải thoát, an lạc. Sự chứng nghiệm khổ đau của con người là động lực thúc đẩy con người tìm cầu giải thoát, nhưng không thể luận lý suông được mà phải tự thân thực hành Phật giáo và thực chứng thì mới có lợi ích, nhân từ chỗ té mà ta đứng dậy. Tính thiết thực của Phật giáo đã vượt ra ngoài định nghĩa trên, người ta có thể cho rằng Đạo Phật không phải là triết hoc, Đạo Phật là tôn giáo hay là luân lý…dù muốn hay không đạo Phật vẫn là Đạo Phật không thể biến cải được.

  1. Các quan niệm chung về khổ
  2. Quan niệm khổ theo dân gian

Tất cả những sự việc gì trên đời này, hễ không vui là khổ. Nguyễn Du, trong Truyện Kiều đã nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” hoặc “ Mua vui chỉ một canh giờ mà thôi”… Nếu ai chưa chịu thoát ly cái vui trong chốc lát, để mang

lấy cái khổ sầu muôn kiếp thì chưa có thể bắt được nhịp cầu thông cảm mọi người, vì ai cũng có cái nỗi khổ riêng. Phàm sống trên cõi đời này, mới sinh ra là đã thấy khổ, biểu lộ của đứa trẻ mới chào đời bằng tiếng khóc báo hiệu sắp phải hứng chịu đau khổ:

Thoạt sinh ra thì đã khóc choe,

                   Trần có vui sao chẳng cười khì…?”

(Nguyễn Công Trứ)

Hay:       “Thảo nào khi mới chôn nhau

                   Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra”

(Ôn Như Hầu)

Hàng ngày, những lúc thất vọng, hay bị bế tắt như thế, con người chỉ biết chấp nhận và cảm thấy bất lực như có cái gì đó vô hình an bày, sắp đặt cho họ, bắt họ phải gánh chịu. Họ chỉ biết ngồi đó kêu trách trời: “Trời kia đã bắt làm người có thân” hay “Hoá công sao khéo trêu người”.  Một chu kỳ sống của đời người nhiều lắm là trăm năm, vậy mà trãi qua không biết bao nhiêu sóng gió, dặp dùi, nào cái khổ nội tâm, rồi cái khổ ngoại cảnh tác động vào. Có người hiểu được đời sống con người từ sanh ra cho đến chết đi là chuỗi dài đau khổ, thức giả tự băn khoăn, lo nghĩ và tự hỏi: “nỗi khổ ấy ở đâu ra?, làm sao cho hết khổ?…”Vì quá chán chường sự khổ, hạnh phúc đối với họ là một cái gì xa vời, mơ hồ lắm, con người mới thử tìm đến Tôn giáo, một sự giải thoát, sự cứu rỗi bởi một Đấng thiêng liêng nào đó, họ tin như vậy vì không còn cách nào khác!

  1. Quan niệm khổ theo Phật Giáo.

Đức Phật Guatama, người sáng lập triết lý Phật giáo sau 49 năm, với nhiều pháp môn cao tột, tuyệt vời, tại vườn Lộc Dã, sau khi đắc đạo Ngài đã thuyết pháp “Tứ Thánh đế” [là bốn chân lý chắc thật] cho 5 anh em Kiều Trần Như. Giáo lý này như một bản tuyên ngôn, thức tĩnh toàn nhân loại, Ngài đã tìm ra nguyên nhân của khổ: “ Đây là Thánh đế về khổ, này các Tỷ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ chết là khổ, sầu bi khổ ưu não,oán ghét gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu bất đắc khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.”[8]. Các cái khổ ấy  còn gọi là: “Bát khổ”, nhưng tựu trung lại thành “Tam khổ”. Bát khổ đồng đẳng với Tam khổ theo sơ đồ dưới đây:

Sanh khổ

KHỔ KHỔ                            Cái khổ này chồng chất lên cái khổ kia

Bệnh khổ

 

Lão khổ       Do từ nơi sự tàn phá của thời gian

HOẠI KHỔ                           sanh ra mà không thể cưỡng

Tử khổ         lại được

 

Ái biệt ly khổ

Cầu bất đắc khổ                 Do nơi những hành động

HÀNH KHỔ         Oán tắng hội khổ                tinh thần và vật chất

Ngũ ấm xí thạnh khổ         phát sinh ra

Ở giáo lý của Ngài, chúng ta không tìm thấy bất cứ một thái độ bi quan và sợ hãi nào. Rất đơn giản là khi một sự kiện khổ xuất hiện, tức thời Ngài đưa ra phương pháp đối trị, cũng như một lương y khi gặp con bệnh, giải quyết vấn đề một cách triệt để là kê toa và bốc thuốc, chuyện hết bệnh hay không còn tùy thuộc người bệnh có chịu uống thuốc đúng theo sự hướng dẫn của thầy hay không. Ngài đưa ra hướng diệt khổ:“chính sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát không có chấp trước[1]. Vì “ái” là nguyên nhân chính đưa đến đời sống khổ, muốn diệt khổ chỉ cần phủ định nó là xong.

Ngài còn khẳng định khả năng thành Phật ở mỗi chúng sanh: “Ta là Phật đã thành và chúng sanh là Phật sẽ thành.”  Và Ngài dạy: “ Ta nay vì các ông nói pháp Trung đạo, các Tỷ kheo cần phải lắng nghe. Cái gì gọi là Trung đạo ? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”[9].  Nhờ con đường trung đạo này mà Ngài giác ngộ và giải thoát dưới cội cây Bồ đề. Kề từ đó, trung đạo không chỉ là quan điểm sống của Phật giáo, biểu thị tinh thần trung dung cởi mở, mà còn là một hệ thống triết học thâm sâu của Phật giáo Đại thừa, trường phái Trung quán (Mādhyamika) của Ngài Long Thọ (NAGAJUNA).

Chung qui, cái khổ mà đức Thích Ca đưa ra là cái khổ có nguyên nhân và có thể diệt trừ, chớ không nêu ra rồi để đó cho người ta khiếp sợ. Hơn nữa Phật giáo không chạy trốn hoàn cảnh,  Phật dạy:  “Chuyển phiền não thành Bồ đề, chuyển sinh tử thành Niết bàn.’’  Bùn tuy nhơ nhớp, nhưng không thể bỏ bùn mà có được hoa sen. Đời tuy khổ, không, vô thường, vô ngã…nhưng ngoài đó ra mà chứng đặng chơn thường, chơn lạc, chơn ngã và chơn tịnh thì không có được

“Đời khổ ải nhưng mang mầm chơn lạc

Ngoài chúng sanh ta không thấy Phật đà

Diệt sinh tử Nirvana hiển hiện

Bảo ta  tìm cái chơn ngã không ra.’’     (Lưu – Vĩnh)

Trãi qua trên 25 thế kỷ, phương pháp diệt khổ của Ngài vẫn được áp dụng mạnh mẽ và phổ biến khắp năm châu, bốn biển. Không có gì mơ hồ hay huyễn hoặc trong giáo lý của GUATAMA-BUDDHA cả. Hầu hết trong kinh tạng A-Hàm Đức Phật luôn nhấn mạnh: “Này các Tỷ-kheo, đến với đạo Phật là đến để thấy và biết.’’  Hãy thể nghiệm nó để thưởng thức hương vị của DHARMA.

  1. Quan niệm Khổ theo các triết gia phương Tây

Nói về những triết gia lừng danh phương Tây, tác giả của các hệ thống triết học vô cùng phong phú và đa dạng. Các Triết lý ấy đã từng giúp con người cũng như xã hội giải quyết những xung đột về tinh thần, trước sự khổ họ luôn đặt mình vào sự quan sát tính di dịch của hiện tượng tâm thức, họ cho rằng tâm thức khác biệt với thân thể vật lý và hoàn cảnh xunh quanh. Do đó, quan niệm về cái khổ con  người là một điều hiển nhiên, không thể thay đổi được. Họ nhiệt tình đem những duy lý ra để chia chẻ sự khổ cho nhân loại thấy theo từng nhận thức của mỗi người.

3.1. Herakleitos

Với Herakleitos, một trong những hiền triết Tây phương, là triết gia cổ Hy Lạp, ông sống tại thành phố Éphese trong một gia đình hoành tộc. Tuy có địa vị cao trong lĩnh vực tôn giáo nhưng ông vẫn cho cuộc đời là khổ, nó biến chuyển thoáng qua (Everything flows) luôn di dịch như dòng nước chảy: “ Một người không bao giờ có thể dẫm chân hai lần trong một dòng suối chảy giống nhau.” (A man can not steep twice into the sam stream.)[10]. Đây là triết thuyết bất hủ của ông, mà cho đến nay vẫn còn nhiều người lưu nhắc. Con người cũng như dòng sông ấy, sự sống và cái chết bất biến, chúng ta sẽ làm gì trước sự biến đổi đó? Ông chấp nhận và xem điều này như là một qui luật thiên nhiên của vũ trụ. “Sự ra đời và phát triển của vũ trụ là trò chơi của một đứa trẻ đẩy các quân cờ trên bàn cờ. Vận mệnh con người nằm trong tay một đứa trẻ đang chơi.[11] Đây là quan niệm của ông

Ngoài ra, Ông không thừa nhận có một bậc siêu nhiên và quyền lực trường cữu của họ, cả họ và tất cả những loài hữu tình khác cũng gánh chịu sự biến dịch này. Họ cùng khổ như mọi loại không khác.

Một dữ kiện nữa đối với Herakleitos là ông tin tưởng rằng mọi vật do lửa sinh ra, tương tự tánh lửa, tham ái như lửa thiêu đốt bức bách con người, lửa cháy vĩnh viễn không thể đập tắt nó, cũng như lòng tham ái của con người, ngày nào con người  còn chạy đuổi theo nó thì sẽ mãi khổ đau, không bao giờ thấy hạnh phúc.

Thuyết nguyên nhân(Cause) và kết quả (Effect) cũng được ông nêu lên, ông cảm thấy hiện tại con người khổ nhiều là do hành động sai lầm ở quá khứ. Thượng đế hay thần linh không can hệ gì đến nhân quả của con người, Phạm thiên cũng không quyết định sự tồn vong, sang hèn, tốt xấu cho ai. Tất cả do nhân duyên tác thành, chính cái nhân tạo thành kết quả, nhân nào quả ấy không thể khác được.

3.2. Arthur Schopenhauer

Với Arthur Schopenhauer, ông nhận thức về “khổ” và thấy rõ nguyên nhân làm con người khổ não không thông qua suy nghiệm, quán tưởng, mà bằng sự trãi nghiệm trong cuộc sống thực tế của chính ông. Trong cuộc đời ông, có ba sự kiện gây cho ông nỗi đau lớn: một là khi cái chết đột ngột của cha ông khiến chính quyền nghi ngờ chính gia đình ông mưu sát, sự kiện thứ hai là ông bị lừa bịp không cho nhận phần lợi tức  của cha ông để lại, sự kiện thứ ba là ông đau đớn khi nhìn thấy mẹ ông lẳng lơ, lãng mạn hơn khi cha ông qua đời. Những sự kiện ấy đã khiến ông đau khổ tột cùng và ông luôn mang tâm trạng bi quan, tuyệt vọng. Tư tưởng của ông lúc bấy giờ gần giống học thuyết bi quan của phái Vaisesika ở Ấn Độ. Ông đã chạy theo hoàn cảnh cho đến quả mệt mỏi vì nó, ông nói: “ Cuộc đời như quả lắc của chiếc đồng hồ, nó cứ lắc lư từ trái sang phải mãi…”, từ khổ chuyển sang bất mãn, ông đi tìm cái gọi là lạc quan và ông đã đạt được sự lạc quan cực điểm. Nhưng sau đó, chính nó lại đưa ông lún sâu vào đau khổ, không có cách nào để vượt qua cũng như hướng dẫn người khác cùng vượt qua đau khổ. Ông chấp nhận hiện diện của sự khổ như là một lẽ hiển nhiên và kết luận trong tâm trạng chấp nhận: “Tất cả chỉ là một chuỗi dài đau khổ”.

3.3. E.Hartmann

Với E.Hartmann, Ông được thừa kế tư tưởng của A. Schopenhauer, nên ông cũng đã nhìn nhận sự hiện diện của khổ trong mỗi con người. Tư tưởng của ông có sắc thái lạc quan hơn, ông tin tưởng khổ đau có lối thoát, bằng trí tuệ của con người, bằng sức mạnh và ý chí con người có thể chiến thắng tâm tham sống đen tối và chuyển hóa nó trở về với cái vô-ý-thức(Unconscious) đầu tiên[12]. Đây cũng là một cách giải quyết. Tuy nhiên, ông vẫn nằm trong mớ giả thiết giải thoát mơ hồ, tưởng tượng chớ chưa nhận chân được lối thoát và vẽ hướng cụ thể cho nhân loại.

3.4. Jear Paul.Sartre

Với Jear Paul.Sartre, một triết gia người Pháp gốc Đức, tác phẩm triết học chính “Tồn tại và hư vô” 1943 ( L’etre et le Néant ), “Buồn nôn” 1938 (La nausee)  là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của ông. Mặc dù có một số ý kiến rằng nó chỉ là một trò chơi triết học ngụy trang dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng sức lôi cuốn và hấp dẫn của nó là không thể phủ nhận. Câu chuyện có vẻ như là một chuỗi tự sự tiêu cực và buồn chán, chứa đựng đầy nỗi ngờ vực và trĩu nặng suy tư về tồn tại, hư vô. Và nhiều tác phẩm khác là sự tổng hợp quan điểm chính của ông về cuộc sống. Ông xây dựng một con người nôn mửa trước cuộc đời: “ Cuộc đời là vô nghĩa, sự sống là thừa thải. Con người là một thụ nạn vô ích. Nó hao tổn sức lực mà không hề đặng sự lợi ích nào !” Tại sao ông quá bất cần đời như thế? Vì ông cho rằng toàn bộ sự vật hiện tượng trong vũ trụ này đều do một Thần ngã đủ thẩm quyền tạo ra, ban phúc và giáng hoạ, cho tự do hay bắt làm nô  lệ. Còn ông là kẻ thừa, cả đến cái chết của ông cũng bằng thừa: “ Tôi, tôi là một kẻ thừa, tôi ao ước sao có thể trừ diệt tôi đi để ít ra  cũng tiêu huỷ được một kiếp sống thừa này”. J.P.Sartre khao khát câu trả lời xác thực về cuộc sống, khao khát sự tự do, nhưng càng mong muốn ông càng đau khổ, ông cảm thấy mình là nô lệ và bị sức mạnh siêu nhiên nào đó kìm hãm, đến mức ông không thể quá nhẫn nhục, chấp nhận buông xuôi cho số phận:

Măc kệ Thiên đàng hay Hoả ngục

                   Sầu đã chín, xin người ơi! hãy hái,

                   Nhận tôi đi, dầu Địa ngục Thiên đàng.”[13]

III. Điểm gặp gỡ về quan niệm khổ của các triết gia và Phật giáo

Thiết nghĩ,  ngày xưa các Hiền triết, Thánh nhân đi tìm chân lý rất gian nan, bóp óc suy luận, triển khai những kiến thức, lưu lại cho đời sau một kho tàng triết học quý báu, món quà tinh thần có giá trị bất hủ. Chúng ta không nên xem nhẹ bởi một khuyết nhỏ, vì có thể họ khuyết mặt này nhưng mặt khác họ ưu. Mỗi người có quyền đưa ra quan niệm của mình.

Nguyên nhân của khổ Đức Phật quan niệm rằng do con người tham chấp: “Chính là cái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, vô hữu ái[2], do vô minh mà con người tạo nghiệp để mãi trôi lăn trong ba nẽo (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới)

Như trên  Herakleitos  thì theo tư tưởng mọi sự vật hiện tượng vô thường biến chuyển (Everything is impermanent) có đồng quan điểm vô thường(Anicca) của đạo Phật, triết lý tham ái(Craving) của ông cũng giống thuyết lý hữu ái (Bhavathana) của Đức Phật và thuyết nhân quả của ông cũng tương đương thuyết nghiệp báo (Karma) của đạo Phật.

Arthur Schopenhauer, sau khi gặp quá nhiều sự bất như ý trong đời thường ông đã mạnh dạn nói lên quan điểm của mình về khổ: “Đầu mối do con người chấp ngã, tham sống, thích sống yêu sống, khát sống và tranh đua nhau sống”[3].(The will to life). Quan niệm của A. Schopenhauer gặp quan điểm của đạo Phật ở chỗ ông xác định ngã tính con người và lòng khát ái là khổ đế(Dukkha-aryasatya) và nguyên nhân gây khổ não

Hartmann cùng tư tưởng của Arthur Schopenhauer, nhưng lạc quan hơn, ông tìm ra lối thoát giả định mơ hồ theo tri thức giới hạn ông nói “Con người có nghị lực chiến thắng tâm tham sống đen tối, bằng cách chuyển hướng, phẩm cách hóa sinh hoạt nhân loại đến chỗ cứu cánh thiện mỹ khi nhân chủng trở lại cái vô ý thức ban đầu[14]. Ông cùng quan điểm Phật giáo ở Diệt đế (Nirdha-aryasatya).

Còn J.P.Sartre, liệu ông có phải là một người lập dị không? Không đâu, ông đã chứng nghiệm được triết lý khổ đế (Dukkha-aryasatya)của Phật giáo. Nhưng đáng tiếc, ông đã không còn niềm tin và ý chí sống của một người đang sống. Tuy nhiên, ông cũng mang đến cho con người một phong cách sống, dù có phần tiêu cực.

Qua những quan niệm trên, chúng ta không thể ngờ rằng, trong các tư tưởng gia lưu ý chúng ta lại thấy được các triết gia phương Tây có đồng quan điểm với tư tưởng của Đức Phật bằng những cách khác nhau, khổ đế, tập đế và diệt đế là chung nhất. Dù đó là những cái nhìn theo cách phiến diện của cá nhân. Những quan niệm này, đã giúp chúng ta rút ra được bài học kinh nghiệm là hãy sống theo phong cách trung đạo, tức không thiên lệch bên nào, bi quan hay lạc quan quá cũng không là nền móng cho thế giới hiện thực được, tất cả mọi thể loại tâm thức bức xúc, giân dữ, ham muốn… đều làm cho chúng ta dễ dàng đánh giá sai lầm một vấn đề. Hậu quả của vô minh là tâm thức bị ô nhiễm, vắng bặt sự tỉnh thức của trí tuệ. Có ánh sáng trí tuệ thì bóng tối tan biến. Khi đã thoát khỏi vòng lẫn quẫn khổ đau thì Niết bàn hiển hiện. Cho nên Phật giáo mới lấy câu : “Duy tuệ thị nghiệp” làm tiêu chí tu hành là vậy.

  1. KẾT LUẬN

Chung qui, các nhà triết gia trên thế giới cũng đã mất rất nhiều thời gian lao vào tư duy, nghiên cứu, cánh cửa giải thoát vẫn khép kín, đối với họ thì trọng tâm là triết chơn luận( triết lý, chơn lý, luận lý), vì thiếu phần nguyện lực cho nên các Ngài chưa có thể đi đến con đường giải thoát rốt ráo.

Đức Phật không là một triết gia hay khoa học gia, nhưng tư tưởng của Ngài trên cả các quan niệm ấy. Nhà Bác học Albert Einstein đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào có thể ứng phó được những nhu cầu của nền khoa học hiện đại thì tôn giáo ấy chính là Đạo Phật.” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism.)[15]

Phật giáo đã tìm ra con đường diệt khổ, đưa con người đến hạnh phúc cứu cánh. Vì khổ là một vấn đề lớn trong cuộc sống của nhân loại, là chân lý hiển nhiên tuyệt đối mà Đức Phật chỉ cho nhân loại thấy trong lần chuyển bánh xe pháp đầu tiên tại vườn Lộc giả sau khi chứng đạo, Đức Phật đã xuất hiện đúng lúc trong khi mọi người đang khao khát, chờ đợi một phương pháp tuyệt diệu cứu khổ, ban vui. Giáo lý siêu tuyệt của Ngài đưa ra, gần như cả thế giới không ai có thể bác bỏ, nếu có muốn bác bỏ vẫn không đủ khả năng loại trừ. Chúng ta không phủ nhận rằng các nhận định của các triết gia về khổ và nguyên nhân của khổ là không được xã hội chấp nhận, nhưng chúng vẫn còn  tiêu cực, hạn hẹp ở hai cực đoan chấp thường và chấp đoạn. Hướng giải quyết tích cực của các vị chưa phát minh ra, phải chăng các vị vẫn còn vướng bởi sự tham ái, biên kiến và chưa có tinh thần xả ly, vị tha vô ngã … Tất cả những điều này Đức Phật đã thể hiện trong xuyên suốt cuộc đời của Ngài. Chính sự buông bỏ tất cả của Đức Phật, để đi tìm cái không,  lại là sự được tất cả.

Với Phật giáo, hành giả phải trãi nghiệm trong cuộc sống, phải thật tu và thật chứng thì mới có thể thật sự diệt được cái khổ, chỉ dùng mớ triết lý suông để giải bài toán tâm linh thì không sao tìm ra đáp số: “ Ẩm thủy noãn, lãnh tự tri.” tức chỉ có người uống nước nóng lạnh mới tự biết, cái muỗng trong nồi súp muôn đời sẽ không bao giờ biết được hương vị của canh. Điểm gặp gỡ giữa các triết gia và Phật giáo, tuy có giới hạn chỉ vài cách so sánh nho nhỏ nhưng cũng đủ cho thấy được giá trị đích thực của tinh thần “tri hành hợp nhất” trong giáo lý nhà Phật nó quan trọng biết bao.

[1]JUNJIRO-TAKAKUSU, Tuệ-Sỹ dịch, Tinh hoa triết học Phật giáo, Ban tu thư Đại Học-Vạn Hạnh,1972. tr.30.

[2] Thích-Minh-Châu, Trung bộ I, Kinh ví dụ con rắn 22,  NXB.Tôn giáo, Hà-Nội, 1986, tr.229.

[3] Thích-Quảng-Liên, Sử cương triết học Ấn Độ, NXB Bồ-Đề, 1965. tr.106.

[4] Thích-Quảng-Liên, Phật giáo và triết học phương Tây, NXB Tôn-giáo, 1996, tr.36.

[5] Nguyễn-Tiến-Dũng, Lịch sử triết học phương Tây, NXB TP HCM, 2006, tr. 94.

[6] Tự điển tiếng Việt, website: Bammboo.com

[7] Thich-Minh-Châu, Trung bộ I, Kinh Xà Dụ, NXB TP HCM, tr. 260.

[8] Thích-Chân-Tính, Những điểm đặc sắc của Phật giáo,,NXB Tôn giáo, Hà Nội,  tr.2.

[9] Thích-Tuệ- Sỹ, Kinh Hoa Nghiêm, Tập II,  Chuyển pháp luân, NXB.TP.HCM, 2000. tr. 607

[10] SĐD. Tr. 10

[11] Nguyễn-Tiến-Dũng, Lịch sử triết học phương Tây, NXB TP HCM, 2006, tr. 25

[12] Thich-Quảng-Liên, SĐD, tr.27.

[13] Nhiều tác giả, Tạp chí Hương Thiền, NXB Bồ đề, 1963.

[14] Thich-Quảng-Liên, SĐD, tr 25.

[15] Albert Eíntein (1879 – 1955 ), Nhà Bác học vĩ đại, Buddhism in the eyes of  intellectuals, K. Sri Dhammananda.

5 Thích-Chân-Tính, Những điểm đặc sắc của Phật giáo,,NXB Tôn giáo, Hà Nội,  tr.2.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s