luan van phat giao

DÀN Ý

 

Đề: Hình tượng Đức Phật theo quan điểm đại thừa trong Lalitavistara

  1. DẪN NHẬP
  1. NỘI DUNG

II.1 Chương 8: Vào Thiên miếu

II.2 Chương mười: Thị Thư

II.3 Chương mười một: Quán nông vụ

II.4 Chương mười hai: Hiện Nghệ

II.5 Chương mười ba: Âm nhạc phát ngộ

          III. KẾT LUẬN

  1. DẪN NHẬP

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni- một bậc đại trí tuệ và vô lượng từ bi, đã hiện hữu giữa cuộc đời này, như đại diện cho một bậc cứu thế hoàn hảo nhất trong lịch sử xã hội loài người. Với năng lực của một bậc Thánh nhân, Đức Phật đã xoa dịu những nỗi khổ niềm đau, mang lại cho chúng sanh con đường an vui hạnh phúc chân thật.

Cuộc đời của Ngài khi còn tại thế, được miêu tả khá nhiều trong các kinh điển Phật giáo. Nhưng khác với kinh tạng Nykaya, Văn học Phật giáo Sanskrít đã kể về cuộc đời Đức Thế Tôn ngoài tính lịch sử, còn có những điều huyền sử siêu nhiên, gây nhiều điều bất ngờ thú vị cho người xem. Cuộc đời của Ngài khi còn sinh tiền, chính là sự thị hiện của một vị Bồ Tát. Có biết bao câu chuyện nói về Ngài lúc còn là Thái Tử, cũng như sau khi thành Phật; tất cả đã xây dựng lên một hình tượng Đức Phật vô cùng đẹp đẽ và vi diệu đến lạ thường. Điều này được ghi chép lại khá đầy đủ, và chi tiết trong kinh tạng Sanskrit.

Đức Phật là hiện thân của một bậc đại trí tuệ, toàn năng toàn giác, đã khơi dậy cho biết bao mạch nguồn văn học của con người trên hành tinh này nói chung, và Phật giáo nói riêng. Trong cảm xúc dạt dào ấy, văn học Phật giáo Sanskrit đã có khá nhiều tư liệu xoay quanh về hình tượng Đức Thế Tôn, vừa mang tính lịch sử, vừa thể hiện tính huyền sử nhiệm mầu của nhà Phật. Những điều siêu nhiên ấy, đối với trí tuệ bình thường của chúng ta khó lòng lý giải hết được. Lalitavistara là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho nội dung trên. Trong ấy, chúng ta dễ dàng khái quát được về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ khi Đản sanh đến lúc Niết bàn, thông qua lời kể của Đức Thế Tôn. Đây cũng là điều có thể góp phần làm cho tác phẩm Lalitavistara đáng được tin cậy, đối những ai lưu tâm tìm hiểu lịch sử của Đức Phật.

Trọn lòng tôn kính vô hạn đối với đấng Cha lành của muôn loài, người viết xin được một lần trình bày suy nghĩ của mình về “Hình tượng Đức Phật theo quan điểm đại thừa trong Lalitavistara” thông qua năm chương  từ 8 đến 13 của tác phẩm, do Ni sư Thích Nữ Trí Hải Việt dịch với nhan đề “Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm”, để nhằm tăng thêm sự hiểu biết.

Vì là Tăng sinh đang tìm hiểu giáo lý Phật Đà, mặc dù có gắng hết sức nhưng vẫn không sao tránh khỏi sự nông cạn sai sót, ngưỡng mong trên Thượng Tọa giáo thọ từ bi hoan hỷ chỉ dạy cho con thêm tỏ tường, con xin thành kính tri ân.

  1. NỘI DUNG

II.1 Chương 8: Vào Thiên miếu   

          Trong Phật giáo Đại thừa, hình ảnh Bồ Tát luôn được đề cao và thể hiện bàn bạc trong kinh điển. Tinh thần Bồ Tát vì chúng sanh nhập thế cứu độ, ban vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài, đã thành quan điểm chủ đạo trong tư tưởng Đại thừa Phật giáo. Từ trên cung trời Đâu Suất, những vị Bồ Tát thành tựu công đức đã nhiều đời, thường Giáng sanh xuống phàm giới để dẫn dắt chúng sanh trở về bờ giác. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng thị hiện như vậy giữa cõi đời này, Ngài khai sáng cho nhân loại con đường diệt tận mọi khổ đau, đạt đến hạnh phúc chân thật. Ngài là hiện thân của một con người giác ngộ, một bậc Thánh nhân vô cùng vĩ đại, đem ánh sáng trí tuệ ban rải muôn nơi. Do nhiều đời nhiều kiếp Ngài đã tu hạnh Bồ Tát, nên việc xuống phàm giới lần này là một nguyện lực lợi tha, mong sao cứu độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chính vì để thực hiện được hạnh nguyện này, nên Đức Phật thị như một bậc siêu nhiên, đầy đủ năng lực, oai đức và trí tuệ vô song, mong sao cứu độ được chúng sanh ba cõi.

Tính chất siêu nhiên của Đức Phật được bộc lộ từ thời còn thơ ấu, sau khi Ngài Đản sanh để kỳ nguyện sự tốt lành cho Thái Tử, vua Tịnh Phạn đã cùng quần thần đem Thái tử yết kiến Thiên miếu: “Khi đến Thiên miếu, nhà vua tự bồng Thái Tử vào điện thờ, vua vừa bước chân vô cửa, các Thiên tướng đều từ tòa đứng dậy, cung kính lễ bái nghinh tiếp Bồ Tát.”[1]

Sự việc “các Thiên tướng đều từ tòa đứng dậy, cung kính lễ bái nghinh tiếp Bồ Tát.”là một điều hết sức kỳ lạ. Đối với các miếu, thường thờ các hình tượng làm bằng các vật liệu có trên thế gian như: đất, giấy, đồng, xi măng…nhưng khi thấy Thái Tử vào miếu, thì các Thiên tướng vội đứng dậy cúi đầu đảnh lễ, thì thật là chuyện không thể nghĩ lường. Điều này có thể là chuyện hư cấu của người đời sau thêm vào, nhằm tôn vinh oai lực của Thái tử. Nhưng cũng là một chuyện có thể xảy ra, vì khi Bồ Tát xuống trần, thì hàng chư Thiên đều biết, và rải hoa trổi nhạc cúng dường; với thần thông của hàng Thiên giới, thì việc các tượng Thiên tướng trong miếu đều đứng dậy nghinh đón Ngài là việc bình thường. Vì oai lực của Bồ Tát không thể làm cho các Thiên tướng ngồi im một chỗ. Trong câu chuyện kỳ diệu này, chúng ta có thể suy luận, là đối với tuệ nhãn của Đức Phật thì Ngài thấy như thế, và có thể Phật thấy nhiều hơn như thế nữa, nhưng phàm nhãn của người thế gian thì không thể thấu được. Sự việc các vị Thiên miếu đối với Thái Tử, cũng như chúng ta đứng dậy cung kính đảnh lễ, cúi chào một bậc đạo cao đức trọng. Do đó, đây không phải là chuyện thần thoại mà là hành động thể hiện lòng tôn kính của hàng Thiên tướng đối với một Bồ Tát oai thần.

II.2 Chương mười: Thị Thư

Câu chuyện cuộc đời Đức Phật được tiếp kể, khi Thái Tử được khôn lớn đến trường để học, thì vị thầy dạy tên là Tỳ Xa Mật Đa thấy Bồ Tát có oai đức vô thượng bèn nói: “Tôi không đủ khả năng làm thầy Thái tử! rồi ông sanh lòng hổ thẹn, lo sợ mê muội cả người té xỉu xuống đất”.[2] Tình tiết này đột ngột xuất hiện trong phẩm thứ mười, làm người xem vô cùng tâm đắc. Một người thầy phải “té xỉu” trước học trò, vì cảm thấy mình không đủ khả năng giảng dạy. Câu chuyện xảy ra làm như các Thiên tử cõi Trời Đâu Suất đã biết trước sự việc này, nên họ xuất hiện đúng lúc, dìu thầy giáo đứng dậy để ngồi yên trên tòa. Vì đối với oai lực của Bồ Tát, thì hàng Thiên tử còn kính nể, huống chi người phàm phu bình thường, thì làm sao dám nhận lời tôn xưng gọi là “thầy” của Bồ Tát. Tình tiết người thầy té xỉu hết sức thú vị cho người xem, thể hiện trí tuệ của Thái Tử đã thu phụ được người thầy, trong khi tuổi còn rất nhỏ. Điều đó hứa hẹn trên cõi đời này, sẽ có một bậc siêu xuất thế gian, làm cho “ma quân” phải kinh hồn khiếp vía.

Phẩm kinh dẫn dắt người xem đến với nhiều tình tiết hấp dẫn khác, như khi được thầy dạy mẫu tự, Bồ Tát cùng mười ngàn đồng tử đã tạo nên những âm thanh vi diệu mang tính giải thoát:

“Khi xướng chữ “A”, thì liền phát ra âm thanh biểu thị tất cả các pháp vô thường.

          Khi xướng chữ “A” dài, thì phát ra âm thanh biểu thị tự lợi.

          Khi xướng chữ “Diêu”, thì phát ra âm thanh biểu thị sau khi mạng chung được đến bờ kia.

                   Khi xướng chữ “Sai”, thì phát ra âm thanh biểu thị các văn tự không thể thuyết bày hết Phật pháp được.”[3]

Đoạn kinh này được ghi chép rất dài, có đến 42 chữ được xướng lên, tất cả đều phát ra những âm thanh thù thắng. Theo tinh thần của giáo lý Đại thừa, khi tâm chúng ta tất cả các vọng chấp đều đã lặng, đồng nghĩa với tâm được định tĩnh, thanh tịnh; thì sự sáng suốt xuất hiện, lúc ấy những hành động của sáu căn đều là chánh niệm. Do có sức năng định như vậy, nên khẩu ngôn của Bồ Tát thốt ra đều xuất phát từ chánh kiến, chánh tư duy, do vậy nói lời nào cũng là Phật pháp. Nội dung của những âm thanh vi diệu đó biểu đạt giáo lý giải thoát cao sâu mà Đức Thế Tôn sẽ thuyết, sẽ mang đến sự lợi lạc cho chúng sanh. Như người tu niệm Phật, khi tâm thanh tịnh, thì những lời nói phát ra đều là lời niệm Phật, dù chữ đó không phải là A Di Đà. Thế nên, những đều mầu nhiệm trên là do định lực của Bồ Tát tạo nên chứ không phải thần thông biến hóa. Mục đích của Ngài đến trường học là một sự thì hiện vì mục đích cứu độ chúng sanh về sau. Sở dĩ Đức Phật không thị hiện thần thánh để hóa độ chúng sanh liền, vì như thế dễ làm cho chúng sanh chấp trước, sanh tâm nãn chí, không phát được tâm Bồ đề; hoặc giả dễ lạc vào tà kiến, vì cho đạo Phật là đạo thần thánh. Thế nên Ngài thị hiện là một người bình thường trãi qua giai đoạn Văn Tư Tu, để cho chúng sanh phát tâm khâm phục và hành theo, đây là bài học vô cùng quý báu cho những ai đang tu đạo.

II.3 Chương mười một: Quán nông vụ

Trong phẩm kinh này, thần lực siêu nhiên của Thái Tử càng thể hiện rõ nét. Một Thái tử còn rất ít tuổi nhưng đã có một định lực hơn cả một Tiên nhơn ngoại đạo đã chứng thần thông, điều đó khẳng định Đức Phật của chúng ta có những điều rất phi thường, mà hàng ngoại đạo phải tuân phục. Câu chuyện kể lại như sau: Trong khi Thái Tử ngồi thiền dưới bóng cây ngoài đồng thì “có vị Tiên nhơn ngoại đạo đã chứng được ngũ thông, bay từ phía nam sang phía bắc khi bay qua ngang cây Diêm Phù chỗ Thái tử đang ngồi thiền, tự nhiên ông không thể qua được ông liền sanh lòng kinh sợ, lông trên thân mình tự nhiên dựng ngược”.[4] Chi tiết vị Tiên nhơn lông trên người dựng ngược làm cho người đọc thêm phần tâm đắc, thích thú vô cùng. Hình ảnh vị ngoại đạo bị mất thần thông là do định lực vi diệu từ Thái Tử cảm nên. Đạo Phật luôn lấy tính từ bi làm nền tảng, trong cuộc đời của mình, Đức Phật không bao giờ làm ảnh hưởng đến ngoại đạo dù là nhỏ nhất. Chính oai đức, định lực và lòng từ bi quá lớn lao của Phật, đã tạo ra một từ trường năng lực cảm hóa được mọi chúng sanh. Sự việc vị Tiên nhơn bị suy giảm thần thông cũng là vì thế. Phép thuật của ngũ thông từ vị Tiên nhơn, không thắng nổi định lực vi diệu của một “Cậu Bé” mới được bảy tuổi. Đây là điều rất đắc, để chúng ta tự hào khẳng định Đức Phật là “Pháp Vương”, vua của các pháp.

II.4 Chương mười hai: Hiện Nghệ

          Trong phẩm kinh này, do nhiều nguyên nhân khách quan Thái Tử đã thể hiện một số tài nghệ siêu việt mà người bình thường không thể tưởng ra được:

– Do lòng ganh tỵ, Đề Bà Đạt Đa đã đánh chết Bạch tượng mà nhà vua dành cho Thái tử. Để tỏ lòng tri ân con vật, Thái tử đã chôn xác con Bạch tượng bằng định lực từ bi của mình: “Bấy giờ Bồ Tát đang ngồi trên xe kéo, Ngài lấy ngón chân phải nâng xác bạch tượng từ từ ném lên hư không cao vượt hơn bảy lớp thành một câu lô xá, xác tượng rơi xuống chỗ đất thành một hầm sâu, về sau người ta gọi đó là hầm tượng”[5]. Chuyện nâng xác con bạch tượng ném lên hư không bằng ngón chân là điều làm người đọc liên tưởng đến chuyện thần thông hiển hóa. Nhưng với đạo Phật, thần thông là chướng ngại trên lộ trình giải thoát. Đức Phật chưa bao giờ khuyến cáo đệ tử sử dụng thần thông để hóa độ chúng sanh. Sự việc ở đây là Bồ Tát dùng tâm từ bi và định lực vi diệu để ném Bạch tượng, chứ không phải dùng lực bình thường để ném thân con vật. Chính tâm từ bi và định lực này con vật mới được giải thoát.

– Trong lần tỷ thí môn toán số: “Khi ấy Bồ Tát xướng số cho các đồng tử theo thứ lớp nhận thẻ, bồ Tát xướng số các đồng tử đếm không kịp, năm trăm vị đều bị lầm loạn… đến khi các vị đồng tử xướng thì họ xướng không kịp, còn Bồ Tát thì đếm rất rành rẽ, không lầm loạn”[6]. Thấy thế, một đại thần tên Át Thuận Na – rất thông thái môn toán thuật, cũng có ý thi thố tài năng với Thái Tử, bèn hỏi: “Ngài biết rõ danh số trăm câu chi không?”. Sau khi nghe Thái Tử trả lời thì ông ta lại nói: “Tôi nghe những gì Thái Tử nói còn mù mờ không hiểu, huống gì những người thấy biết thiển cận làm sao hiểu được”. Đây chính là trí tuệ siêu xuất thế gian của Thái Tử, đây là vô sư trí mà Ngài không thạo từ vô lượng kiếp, với trí tuệ này đã đưa Thái Tử chứng quả Bồ đề. Bởi thế, trí tuệ của Phật chỉ có Phật với Phật mới hiểu, hàng Bồ Tát còn chưa lãnh hội được, huống chi phàm nhân.

– Trong lần thi bắn cung, Thái Tử mới chạm vào cung, tự nhiên cung giương lên, tiếng dây cung bậc vang khắp thành Ca Tỳ La, tất cả dân chúng trong thành đều cảm thấy kinh sợ, họ hỏi nhau rằng “Đây là tiếng gì?”. Câu chuyện có thể làm cho chúng ta suy luận rằng đó là tiếng “Sư tử hống” làm cho ma quân bốn phía phải kinh hồn. Với định lực và từ bi của mình, Đức Phật gióng hồi chuông làm thức tỉnh cho tất cả chúng sanh đang bị mê mờ trong đau khổ. Sự việc trên, hình như tất cả đã sẳn sàng, chỉ chờ Thái Tử chạm vào thì liền xuất hiện điều vi diệu này “cây cung tự nhiên giương lên, dây cung tự nhiên phát ra âm thanh của sức bậc vang vọng”,  ví như cõi Ta-bà của chúng ta đang chờ một vị cứu tinh cứu cho tất cả chúng sanh đang bị trầm luân khổ hải.

Tất cả thiện nghệ của Thái Tử thể hiện, không phải là khoe khoan như hạng phàm phu, mà đây chính là phương tiện, mà Đức Phật đã dùng để quy phục và độ thoát chúng sanh.

II.5 Chương mười ba: Âm nhạc phát ngộ

Lại một điều nhiệm mầu được miêu tả trong phẩm kinh này. Khi Bồ Tát ở trong cung thì: “các thứ trống tự nhiên trỗi âm nhạc; thể nữ đàn ca thì phát ra âm thanh vi diệu; các giống chim thì phát ra tiếng hót hòa nhã dễ nghe; các loại hoa đúng thời hoặc phi thời đều nở rộ; đáy ao nước toàn là chất lưu ly tạo thành, phát ra ánh sáng kỳ diệu, không thể lấy gì so sánh được; âm thanh nhạc khí của thể nữ thì phát ra những lời kệ tán thán, ca ngợi Đức Thế Tôn…” [7]. Đây là các điều vi diệu được biểu hiện xung quanh Bồ Tát, tạo nhiều thích thú cho người xem. Tất cả những hình ảnh đẹp đẽ, tốt lành này, cũng như những pháp âm vi diệu phát ra; tất cả giống như cõi Tây Phương Cực Lạc, mà kinh A Di Đà đã từng miêu tả. Phải chăng nơi hoàng cung của Thái Tử cũng là cõi Phật?! Qua những chi tiết trên , ta thấy những điều tốt lành đã chứng minh rằng Thái Tử có đầy đủ công đức của sự tu tập của một vị Phật, nên mới có những hiện tượng thù thắng như vậy. Thật đúng như thế, Thái Tử nhiều đời nhiều kiếp đã tu hạnh Bồ Tát, hành Lục độ Ba-la-mật thâm sâu, như những lời của âm nhạc phát ra nơi hoàng cung tán thán:

“Nhớ xưa Bồ Tát vì chúng sanh

                   Xả thịt, tay chân mà không tiếc

                   Trì giới, nhẫn nhục thêm tinh tấn

                   Thiền định, trí huệ đều đầy đủ

                   Cầu đạo Bồ-đề là thắng phước

                   Tất cả thế gian không bì kịp”.[8]

Chính vì vậy nên trong kinh dùng danh từ “Bồ Tát” để gọi Thái Tử, vậy nơi Bồ Tát ở cũng chính là cõi Phật, thì những hiện tượng thù thắng của các sự vật nơi đây biểu hiện ra là điều tất yếu. Hay nói cách khác, những hiện tượng kỳ diệu như trong kinh miêu tả, chính là những hộ pháp đắc lực cho Bồ Tát trong hành trình thực hiện hạnh nguyện lợi tha của mình. Và chỉ có Đức Phật của chúng ta mới được như vậy, vì Ngài là một bậc siêu nhiên, thị hiện giữa cuộc đời này để độ cho chúng sanh vượt qua ba cõi

III. KẾT LUẬN

Tác phẩm Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh dành nội dung kể về cuộc đời Đức Thế Tôn khi còn tại thế. Các giai đoạn về cuộc đời của Đức Phật được miêu tả khá chi tiết. Những câu chuyện được tiếp nối theo trình tự logich từ khi Phật Đản sanh đến lúc thành đạo, và chuyển pháp luân để hóa độ đệ tử.

Thông qua các chương từ tám đến mười ba, chúng ta có thể hình dung được một Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, với tài đức vẹn toàn, công hạnh viên mãn. Ngài thị hiện giữa cõi đời này như một vị Bồ Tát siêu nhiên, không ngoài hạnh nguyện cứu độ chúng sanh. Những tình tiết trong các câu chuyện kể về Phật mang tính khái quát cao, và không kém phần hấp dẫn. Người đọc dễ bị lôi cuốn bởi những điều kỳ lạ, nhiệm mầu, vi diệu, được trình bày khá chi tiết; tất cả đã xây dựng nên một Đức Phật với oai lực dũng mãnh vô song, làm cho Trời người phải cung kính, và ma quân phải khiếp phục. Một Đức Phật hiện ra với định lực vô biên, trí tuệ song toàn, chuyển lưu bất tận. Một Đức Phật hiện ra vô cùng đẹp đẽ trong hạnh nguyện của vị Bồ Tát, dám hy sinh cả thân mình chỉ vì mong muốn cứ độ chúng sanh thoát khổ, mang lại lợi ích an vui cho vạn loại. Đây chính là tinh thần của Phật giáo Đại thừa, đồng thời cũng là tinh thần cốt lõi của bản kinh.

Tóm lại hình tượng Đức Phật trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm là một con người bình thường bằng xương bằng thịt, nhưng có đầy đủ năng lực của một bậc siêu nhiên, đã xây dựng lên một đạo vàng rực rỡ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lược Sử Văn Học Sanskrit và Hán Tạng Phật giáo- tác giả Thích Kiên Định- NXB Thuận Hóa, 2008

Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm – Tỳ Kheo Ni Trí Hải dịch – NXB Tôn Giáo tái bản, 2002

[1] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 162.

[2] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 169.

[3]Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 171-176.

[4] Tỳ Kheo Ni Trí Hải dịch, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, NXB Tôn Giáo 2002) 178.

[5] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 195-196.

[6] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 198.

[7] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) tóm ý trang 218-219.

[8] Dịch giả Thích nữ Trí Hải, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm ( tái bản, Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2002) 217-218.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s